Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu gồm 3 dàn ý chi tiết kèm theo 18 bài văn mẫu hay. Qua đó giúp những em học viên lớp 12 ôn tập, tích lũy vốn từ, chuẩn bị thật tốt cho kỳ thi tốt nghiệp THPT vương quốc 2021 tiếp đây.

Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm văn học xuất sắc của Nguyễn Minh Châu, để lại cho chúng ta những bài học quý giá về triết lý nhân sinh của cuộc đời, biết đồng cảm, sẻ chia với những mảnh đời khốn khó. Bên cạnh đó những em xem thêm thêm nhiều bài văn hay khác tại phân mục Văn 12.

Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

  • Dàn ý phân tích truyện Chiếc thuyền ngoài xa (3 Mẫu)
    • Mẫu dàn ý 1
    • Mẫu dàn ý 2
    • Mẫu dàn ý 3
  • Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa ngắn gọn (3 Mẫu)
    • Bài văn mẫu 1
    • Bài văn mẫu 2
    • Bài văn mẫu 3
  • Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa đầy đủ nhất (15 Mẫu)
    • Bài văn mẫu 1
    • Bài văn mẫu 2
    • Bài văn mẫu 3
    • Bài văn mẫu 4
    • Bài văn mẫu 5
    • Bài văn mẫu 6
    • Bài văn mẫu 7
    • Bài văn mẫu 8
    • Bài văn mẫu 9
    • Bài văn mẫu 10
    • Bài văn mẫu 11
    • Bài văn mẫu 12
    • Bài văn mẫu 13
    • Bài làm mẫu 14
    • Bài văn mẫu 15

Dàn ý phân tích truyện Chiếc thuyền ngoài xa (3 Mẫu)

Mẫu dàn ý 1

I. Mở bài

  • Nguyễn Minh Châu là một trong số “những nhà văn mở đường tài hoa và tinh anh nhất”. Ông không ngừng trăn trở về số phận nhân dân và trách nhiệm của nhà văn, luôn thiết tha truy tìm những hạt ngọc ẩn giấu nơi bề sâu tâm hồn.
  • Chiếc thuyền ngoài xa in trong tập Bến quê, tác phẩm đem lại cái nhìn đúng đắn về cuộc sống và con người.

II. Thân bài

1. Hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh

a. Phát hiện “cảnh đắt trời cho”

– Phùng là người say mê nghệ thuật trong một thoáng nhìn anh đã phát hiện ra cảnh đắt trời cho để chớp lấy,

  • Nhận xét “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích. Đây là cảnh tượng kì diệu của thiên nhiên, cuộc sống khi nhìn từ xa.
  • Phùng bồn chồn trước nét đẹp: “trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”, nhận thấy rằng “bản thân nét đẹp đúng là đạo đức”. Đó là niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ khi bắt gặp nét đẹp, anh nhận thấy vai trò thực sự của nghệ thuật.

b. Phát hiện bức tranh cuộc sống đầy nghịch lí

– Từ chiếc thuyền nhỏ đẹp đẽ vừa rồi, Phùng nhận thấy:

  • Người đàn bà thô kệch xấu xí, mặt đầy sự mệt mỏi bước ra và một lão anh xã với tấm lưng rộng, mái tóc tổ quạ, đôi mắt độc dữ cùng bước ra từ con thuyền.
  • Lão anh xã “dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, “vừa đánh vừa nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn”.
  • trong lúc ấy, người đàn bà chỉ cam chịu, không kêu van, hay chống trả, chạy trốn.

– Thái độ của Phùng: “ngạc nhiên đến mức trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”. Phùng ngỡ ngàng nhận thấy thực chất thực sự của nét đẹp anh vừa bắt được.

– Nhận xét: đừng nhầm lẫn giữa hiện tượng phía bên ngoài và thực chất bên trong

2. mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện

– Khi chánh án Đẩu đề nghị chị nên li hôn, chị ta khẩn xin “con lạy quý tòa …đừng bắt con bỏ nó”, theo chị:

  • Người đàn ông thực chất vốn không phải kẻ vũ phu, độc ác, anh ta chỉ là nạn nhân của cuộc sống đói khổ. Người anh xã là chỗ dựa khi có biển động.
  • Chị không thể một mình nuôi nấng trên dưới 10 đứa con, vả lại “trên thuyền cũng có thể có những lúc vợ anh xã con cái vui vẻ, hòa thuận”.

– Qua mẩu chuyện và thái độ của người đàn bà, hoàn toàn có thể nhận thấy người đàn bà là hiện thân cho kiếp người xấu số bị cái đói khổ, cái ác và số phận đen đủi dồn đến chân tường. Nhưng ở chị ta lại có một tâm hồn vị tha, tình yêu thương tha thiết và là người từng trải, sâu sắc.

– Thái độ của chánh án Đẩu và nhiếp ảnh Phùng khi người đàn bà quyết không bỏ anh xã:

  • Cả hai đều thấy tức giận và bất bình
  • Nhưng sau khi nghe tâm sự của người đàn bà anh ta thấy như có “một chiếc gì vừa mới vỡ ra”.

– Nhận xét: thuở đầu, họ quen nhìn đời bằng con mắt đơn giản một chiều (nghĩ đơn giản rằng những kẻ đi theo ngụy là xấu “lão ta hồi 75 có đi lính ngụy không?”), chỉ biết qua lí thuyết sách vở, không sẵn sàng đối mặt với nghịch lí cuộc đời.

– Bài học rút ra: phải có cái nhìn đa diện về cuộc sống, không nhìn hiện tượng đánh giá thực chất.

3. Bức hình được chọn

– Nghệ sĩ Phùng vẫn mang Bức hình đó về tòa soạn, quả nhiên tâm ảnh đã được chọn, được treo ở nhiều nơi, nhất là trong những gia đình sành nghệ thuật:

– Phùng vẫn luôn nhận thấy trong Bức hình của tôi:

+ “cái màu hồng hồng của sương mai” (hình tượng cho nghệ thuật) và người đàn bà nghèo khổ bước ra từ bức tranh (hiện thân cho đời thực).

– Nhận xét: nghệ thuật chân chính không lúc nào tách rời khỏi cuộc sống.

III. Kết bài

  • Nêu cảm nhận riêng về tác phẩm.
  • Giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện đặc sắc, cốt truyện hấp dẫn. Khắc họa nhân vật sắc sảo, điểm nhìn trần thuật linh hoạt, …
  • Tác phẩm đã đem lại bài học về cách nhìn cuộc sống và con người: phải nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện thực chất đằng sau vẻ bề ngoài của hiện tượng.

Mẫu dàn ý 2

1. Đặt vấn đề

  • Nguyễn Minh Châu được đánh giá là một người mở đường tinh anh và đầy tài năng của nền văn học Việt Nam những năm sau đổi mới. Sáng tác của ông giai đoạn này chủ yếu thường hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết hoàn toàn có thể nói không quá dòng tài năng của ông xứng đáng được xếp vào những hàng tài năng xuất sắc nhất của nền văn học hiện đại bởi trình độ nghệ thuật cũng như chất lượng tư tưởng.
  • “ Chiếc thuyền ngoài xa” được viết năm 1983 đã thể hiện được những khám phá quan trọng của nhà văn từ cuộc sống nghệ thuật của giai đoạn mới. Thành công về nghệ thuật nổi trội của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm này hoàn toàn có thể kể tới việc ông xây dựng tình huống truyện cực kì độc đáo.

2. Thân Bài

* Khái niệm tình huống

– Là một sự kiện đặc biệt của đời sống được mô tả trong tác phẩm mà tại sự kiện đó nhà văn đã làm sống dậy một tình thế bất thường có tính chất éo le và gây bất ngờ giữa những nhân vật tại sự kiện đó, tính cách nhân vật được bộc lộ sắc nét, ý tưởng của nhà văn cũng hiện hình khác trọn vẹn. những nhà văn lý luận vẫn đưa ra ba loại tình huống phổ biến.

  • Thứ nhất là tình huống nhận thức mọi tình tiết, chi tiết trong truyện chủ yếu hướng tới sự lý giải giác ngộ nhận nhận thức của nhân vật.
  • Thứ hai tình huống tâm lý: chủ yếu hướng tới việc khám phá diễn biến tư tưởng, tình cảm và tâm lý của nhân vật.
  • Thứ ba là tình huống hành động: chủ yếu hướng tới hoạt động và bước ngoặt của nhân vật.

Trong truyện ngắn “ chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đã tạo ra một hệ thống mang ý nghĩa sâu sắc khám phá, phát hiện về đời sống, tình huống nhận thức.

3. Kết bài

Vừa là đồng hương vừa là bạn chiến đấu của nhiếp ảnh Phùng là chánh án Đẩu. Đẩu là người tốt bụng, đầy trách nhiệm, anh luôn đứng về người phụ nữ nạn nhân của sự bảo hành để bênh vực họ. Anh mời người vợ đến tòa án huyện để khuyên bà ta ly hôn với anh xã. giải thoát cho người đàn bà khỏi người anh xã vũ phu: “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. toàn quốc không tồn tại một người anh xã nào như hắn. Tôi vẫn chưa hỏi tội hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi với gã đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào” Chánh án Đẩu muốn giúp người đàn bà, muốn dùng pháp lý và đạo lý để bảo vệ chị ta như anh quả là xa xăm. thực tiễn khi vẫn chưa hiểu rằng cuộc sống của người phụ nữ làng chài cần phải có một người đàn ông làm trụ cột.

Mẫu dàn ý 3

1. Mở bài

– Giới thiệu về truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

2. Thân bài

a. Bức tranh hoàn mỹ được phát hiện bởi nhân vật Phùng:

  • Từ xa xa, trong từng làn sương mờ ảo, huyền diệu, bóng một con thuyền thấp thoáng tiến vào bờ.
  • Ánh mặt trời bình minh mang màu hồng nhạt đang chiếu vào con thuyền tạo ra vẻ toàn bích.

=> Vẻ đẹp xưa nay vẫn chưa từng có, Bức hình mà người nghệ sĩ vẫn khát khao kiếm tìm lâu nay.

b. Cảnh tượng sau vẻ đẹp toàn bích:

  • Xuất hiện một người đàn bà không mấy xinh đẹp, da mặt thì bị rỗ.
  • Đi theo sau là một người đàn ông cao to, vẻ mặt tức giận, rất hùng hổ, mũi đỏ gay.
  • Người đàn ông ấy dáng những trận đòn tới tấp bằng chiếc thắt lưng trên tay ông ta vào người đàn bà.

=> Bạo lực gia đình.

– Dù Phùng đã nỗ lực cản ngăn những vì thói quen, cảnh tượng ấy vẫn tiếp tục xảy ra → Phùng buộc họ đến toà án.

c. Cảnh tượng trong toà:

  • Xuất hiện với vẻ đầy lúng túng.
  • Chánh án Đẩu và Phùng bày tỏ mong muốn giúp đỡ người đàn bà li hôn với người anh xã vũ phu nhưng chị ta không chịu.

d. Vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà hàng chài:

  • Người vợ bao dung, nhân hậu.
  • Người mẹ yêu thương con vô điều kiện, mong những gì đẹp đẽ cho con.
  • Người phụ nữ giàu đức hy sinh.
  • Người luôn hướng tới hạnh phúc, tìm thấy sự ủi an trong những điều nhỏ nhặt của cuộc sống

3. Kết bài

– Cảm nghĩ về truyện Chiếc thuyền ngoài xa.

Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa ngắn gọn (3 Mẫu)

Bài văn mẫu 1

Nguyễn Minh Châu là một trong những cây văn viết văn xuôi giàu chất thơ và dằm sâu chất triết lý. Trong số đó, “chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những sáng tác mang hơi hướng nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu mà qua đó ông còn thể hiện được nhiều triết lý, ý nghĩa sâu sắc qua những hình ảnh nhỏ.

“Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm có tình huống truyện rất độc đáo. Nó được thể hiện qua những phát hiện chân thực của nhân vật Phùng. Tình huống truyện đầy bất ngờ và chứa nhiều mẩu chuyện mà qua đó tạo bước ngoặt trong nhận thức của nhân vật về nghệ thuật và cuộc sống.

Phát hiện trước tiên dưới con mắt của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng là một bức tranh thiên nhiên hoàn mĩ. Sau một tuần kiên nhẫn phục kích làm việc nhưng Phùng vẫn vẫn chưa chụp được một Bức hình vừa lòng thì trong một buổi sáng sương mù, lác đác mấy hạt mưa Phùng đã có dịp ghi lại những cảnh đẹp thiên nhiên chân thực. Đó là hình ảnh một chiếc thuyền lưới vó, đó là bầu sương mù trắng như sữa và có vài bóng người…Những hình ảnh hiện lên cực kì đơn giản và bình dị. Qua đó thấy được sự tài hoa của ngòi bút Nguyễn Minh Châu trong việc tả cảnh cùng với việc sử dụng nghệ thuật so sánh đầy tài ba, từ láy có giá trị gợi hình rất cao giúp nhà văn chạm khắc được một bức tranh bằng ngôn ngữ tuyệt mĩ, chân thực và sinh động. Hình như ngòi bút Nguyễn Minh Châu còn đang tranh tài với tạo hóa để rồi ngoại cảnh kia hóa thân trong những trang văn rất đẹp của Nguyễn Minh Châu. Đây cũng là thú vui, sự hứng khởi của nhân vật phùng sau những ngày ròng rã vẫn chưa tìm được những chi tiết đắt giá, Bức hình mà mình vừa lòng. Có lẽ vì thế mà khiến anh bấm máy liên tục để ghi lại khoảnh khắc hạnh phúc, đẹp rạng rỡ này của thiên nhiên.

Sau bức tranh thiên hiện rạng rỡ ấy thì cũng là khi nhân vật Phùng tiếp tục phát hiện ra đằng sau nó là một bức tranh cuộc sống đầy nghịch lý. Lúc này, nhân vật Phùng đứng với cự ly gần hơn nên hoàn toàn có thể nhìn rõ được hình ảnh người phụ nữ trạc ngoài 40 tuổi, cao lớn, thô kệch, mệt mỏi sau một đêm thức trắng. Còn người đàn ông kia với tấm lưng rộng và cong như một chiếc thuyền, chân đi hình chữ bát…Mọt hình ảnh hiện lên không tồn tại tính thẩm mỹ với thực sự trần trụi của cuộc sống hiện tại. Với những hình ảnh này nó đối lập hoàn toàn ngược lại với bức tranh tuyệt bích mà trước đấy nhân vật Phùng đã phát hiện. Đoạn văn mô tả hành động cục súc mà người đàn ông vừa đánh vừa nguyền rủa người đàn bà. Trái lại, người đàn bà kia không tồn tại ý thức phản kháng mà cam chịu và không hề chống trả. vẫn chưa dừng ở đó, tiếp tục hành động tát vào mặt những đứa trẻ. Đây đều là những hình ảnh xấu xí,phi nhân tính, phi đạo đức của cuộc sống và để lại nhiều ngỡ ngàng ch nhân vật Phùng. Anh không chỉ là ngạc nhiên,tức giận còn tỏ thái độ bất bình, ”vứt chiếc máy ảnh xuống đất định ngăn cản”…Nhưng vẫn chưa kịp tiến hành thì anh đã bị Phác lao tới ngăn cản. Qua đó, thấy được ở Phùng không chỉ là là người nghệ sĩ yêu nét đẹp mà anh còn thể hiện là người dám lên án cái xấu, ngăn chặn cái xấu lại. Cũng chính những phát hiện đắt giá của nhân vật Phùng qua bức tranh cuộc sống đầy nghịch lý ấy mà Nguyễn Minh Châu cũng thể hiện được thông điệp đó là: Đằng sau nét đẹp không phải lúc nào cũng là cái thiện, cái đạo đức mà có cả những xấu xa, bất công. Và để có những phát hiện đầy đủ nhất thì người nghệ sĩ phải khám phá về mọi mặt để hiểu và trân trọng những thứ chân thực ở cuộc sống.

Từ những phát hiện ấy mà Nguyễn Minh Châu còn hé mở và gieo vào lòng người đọc những nội dung mang tính triết lý hơn qua cảnh người đàn ông bạo hành những đứa trẻ con. Đó là một vấn đề cũng đáng được quan tâm và là chi tiết đắt giá của toàn bài. Vấn đề bạo lực gia đình Hình như vẫn còn đấy đó nhen nhóm trong lòng tác giả. trải qua tác phẩm, Nguyễn Minh Châu cũng thể hiện thông điệp của cuộc sống. tác giả lên án thói vũ phu, tàn bạo của người đàn ông và ca tụng tình mẫu tử thiêng liêng, lên tiếng bảo vệ cuộc sống tương lai cho những đứa trẻ khi phải sống trong cảnh bạo lực.

Bài văn mẫu 2

Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu, với phong thái sáng tác giàu tính hình tượng trong nền văn học nước nhà. Những tác phẩm của ông luôn khiến người đọc phải trằn trọc, suy nghĩ rất nhiều. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một mẩu chuyện giàu sức gợi như thế. Hình ảnh người đàn bà làng chài là hình ảnh để lại trong lòng người nhiều ám ảnh, trăn trở về cuộc sống của con người trong giai đoạn đổi mới.

Chiếc thuyền ngoài xa kể về chuyến đi sáng tác của nhiếp ảnh Phùng khi đến với vùng đất biển này. Và từ chuyến đi này, anh đã nhận được ra rất nhiều chiều của cuộc sống, nhiều góc khuất mà con người vẫn bỏ lỡ. Hình ảnh người đàn bà là hình ảnh khiếp anh vừa khó hiểu, vừa do dự, vừa đau xót. hoàn toàn có thể nói người làng chài là hình ảnh hình tượng cho cuộc sống khó khăn, chịu nhiều thiệt thòi của người phụ nữ.

Người đàn bà hiện lên trong mẩu chuyện của nhiếp ảnh Phùng là một người đầy nhọc nhằn, lam lũ. Nguyễn Minh Châu với những nét vẽ tinh ý đã phác họa nên một hình ảnh giàu sức gợi “người đàn bà trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của đàn và vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, Hình như đang buồn ngủ”. Một người phụ nữ gây ấn tượng cho người đọc ngay từ những dòng trước tiên, đầy nhọc nhằn, đầy khổ sở và đầy thương cảm. Người đàn bà ấy tiếp tục ám ảnh người đọc bằng chi tiết “tấm áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng”, đã phần nào gợi lên sự chua xót, khốn cùng. Giữa cảnh biển mênh mông lại xuất hiện một con người khiến người khác phải trằn trọc như thế này.

Người đàn bà ấy còn đầy vẻ cam chịu và nhẫn nhục khi người anh xã hằn học và mắng nhiếc. Đôi mắt của chị như xuyên sâu vào lòng người đọc, nó ám ảnh cho tới khi gấp trang sách lại. ánh nhìn của chị đầy thương xót, đầy ai oán và cũng đầy tình yêu thương dành riêng cho những đứa con cho mình.

Dọc theo như hình trình đi tìm nét đẹp của nhiếp ảnh Phùng, người đàn bà trở thành tâm điểm cho vẻ đẹp ấy. Một vẻ đẹp đầy sự khó khăn, nhọc nhằn và đau khổ. Hành động bạo lực của người anh xã khiến chị cứ câm lặng, không ai oán một lời.

Và sự cam chịu ấy được lặp lại khi chị được gọi đến hầu tòa. Mặc dù “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người phụ nữ ấy vẫn “không hé răng một lời”. Hình dáng “mụ ngồi ghé vào mép ghế và cố thu người lại” càng khiến cho Phùng, cho Đẩu, và cho người đọc một nỗi ám ảnh khó bỏ. Tuy nhiên chỉ một lát, “người đàn bà lại lúng túng và sợ sệt”. Có lẽ cuộc sống của chị quá nặng nề, quá thê lương trong những năm qua.

Tình tiết người đàn bà vái lạy để con trai không làm điều dại khờ với bố, cũng như vái lạy quan tòa càng toát lên vẻ cam chịu, sự nhẫn nại, giàu đức hi sinh “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Khi đi đến tận cùng của nỗi đau, khi có một con đường giải thoát thì người đàn bà ấy vẫn lặng lẽ và cam tâm chịu đựng đau khổ? Là vì điều gì? Chẳng phải vì đức hi sinh của người mẹ đó sao?

Lời tâm tình của người đàn bà về cuộc sống, về người anh xã, về những đứa con khiến người khác vừa thương xót vừa khâm phục. Một người đàn bà yêu anh xã, thương anh xã mặc dù bị anh xã ngược đãi. Người đàn bà yêu con, thương con vô điều kiện, không đòi hỏi bất kỳ điều gì.

Khi chị kể tới chi tiết “vui nhất là lúc được ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no” thì có lẽ người đọc ứa nước mắt. Những đứa con là sức mạnh để chị hoàn toàn có thể tồn tại, hoàn toàn có thể sống sót và kiên định đến lúc này. Một người mẹ lặng lẽ hi sinh cuộc đời mình vì những đứa con, một người mẹ đã nhẫn nhục toàn bộ chỉ vì miếng cơm manh áo cho con. Một người mẹ nghèo, cố chấp nhưng yêu thương con vô bờ bến. Cuộc đời của chị nhiều đau thương và nước mắt nhưng lại có biết bao nhiêu phẩm chất cao đẹp, đáng trân trọng.

Không phải ngẫu nhiên tác giả chỉ gọi nhân vật là “người đàn bà”, có lẽ không phải chỉ một người đàn bà duy nhất, mà hoàn toàn có thể chúng ta còn bắt gặp rất nhiều người đàn bà có chung cảnh ngộ ở bất kỳ bãi biển xinh đẹp nào. Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức chân dung khiến cho người đọc phải suy ngẫm, phải trăn trở về cuộc sống của rất nhiều người xung quanh chúng ta. Và cái hình ảnh mà nhiếp ảnh Phùng chụp được cũng như những gì anh nghĩ về người đàn bà này là triết lí, một triết lí cho cái nhìn nhận đa chiều về cuộc sống này. Tấm lưng bạc phếch, ướt sũng của người đàn bà này có lẽ còn ám ảnh rất nhiều người nữa.

Người đàn bà đó đúng là nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, cũng như tác giả đã dùng cái tâm để vẽ lên hình ảnh đó.

Hình ảnh người đàn bà làng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đã gửi gắm nhiều thông điệp đến người đọc về cuộc sống, phẩm chất đẹp đẽ của những người phụ nữ.

Bài văn mẫu 3

Nguyễn Minh Châu (1930-1989), là một cây bút sử thi lãng mạn, trước năm 1975 những tác phẩm của ông chủ yếu viết nhiều về đề tài người lính. Tuy nhiên sau năm 1980, sáng tác của ông đi sâu vào cảm hứng đời tư thế sự với vấn đề đạo đức và triết lí chân thực. Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm tiêu biểu cho phong thái ấy, với ngôn từ dung dị đời thường, truyện kể lại chuyến đi thực tiễn của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời.

Nguyễn Minh Châu đã mô tả bức tranh thiên nhiên kì vĩ, thơ mộng, đẹp mê lòng người. Bức tranh ấy quyến rũ kì lạ đối với những người biết yêu và thưởng thức nét đẹp như Phùng. Để có một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật vừa lòng, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tiễn chụp bổ sung một Bức hình với cảnh biển buổi sáng có sương mù.

Nhân chuyến đi thăm Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa, giờ đang là chánh án huyện, Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Đã mấy buổi sáng mà anh vẫn vẫn chưa chụp được một Bức hình nào. Sau một tuần lễ, Phùng đã chụp được một Bức hình tuyệt đẹp về chiếc thuyền ngoài xa: “một chiếc thuyền lưới vó, như là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”.

Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe, bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào “toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích” đã khiến Phùng bồn chồn và trong trái tim Phùng “như có gì bóp thắt vào”, trong cái giây phút bồn chồn ấy Phùng “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái không khí trong ngần của tâm hồn”.

nét đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh đã mang lại khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn Phùng, anh đã bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh vật vào trong ống kính của tôi. Tuy nhiên hiện thực lại không hề tươi đẹp đến như vậy.

Tác giả mô tả bức tranh tuyệt vời kia đồng thời với cuộc sống của một gia đình làng chài, một gia đình nhiều đau thương. Ở đó, tác giả triệu tập thể hiện nhân vật người đàn bà hàng chài mang số phận xấu số, hằng ngày chịu thảm kịch của bạo lực gia đình. Một người đàn bà vô danh, xấu xí nhưng bao dung, vị tha và hiểu lẽ đời sâu sắc. Một người đàn bà điển hình cho vẻ đẹp khuất lấp của phụ nữ miền biển nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung.

Người đàn bà ấy ngoài 40, cái tên cũng không tồn tại, khi tác giả gọi là “mụ”, khi gọi là “chị ta”. Người đàn bà ấy có một ông anh xã chỉ biết say xỉn, chửi bới và đánh đập. Nhưng bằng tình thương yêu con cái, chị vẫn cố gắng bám lấy biển, giữ lấy nhà, đùm bọc con cái.

Chị nhẫn nhịn chịu đánh, “3 ngày trận nhẹ, 5 ngày trận nặng” bởi chị hiểu rằng con thuyền giữa biển khơi cần một người đàn ông chèo chống. Bức hình về chiếc thuyền thì rất đẹp, nhưng cuộc sống đích thực của gia đình dân chài trên chiếc thuyền ấy chẳng có gì là đẹp. Sự nghịch lí ấy đề ra vấn đề đối với người nghệ sĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.

Tác giả còn xây dựng chân dung nhân vật Phùng. Phùng là người nghệ sĩ tài năng, say mê nét đẹp và trách nhiệm với nghề. Phùng có tấm lòng nhân hậu, thương người khi chứng kiến và sẵn sàng giúp đỡ người đàn bà xa lạ chịu bất công. Tuy không chấp thuận cái xấu nhưng Phùng lại vẫn chưa đủ sâu sắc lẽ đời. Phùng từng là người lính chiến đấu giải phóng miền Nam khỏi quân xâm lược nhưng lại không thể nào giải phóng được số phận của người đàn bà xấu số.

Làm thế nào để đem lại cái phần thiện trong người đàn ông ấy (anh xã người đàn bà hàng chài). Trong một gia đình như gia đình vợ anh xã làng chài, những đứa trẻ như chị Phác, cậu bé Phác lớn lên và sẽ thành người thế nào? Những người nghệ sĩ như Phùng, những nhà quản lí xã hội như Đẩu sẽ làm gì để cuộc sống bớt đi những mảnh đời như vậy? Qua mẩu chuyện của người đàn bà, Phùng càng thấm thía: không thể đơn giản trong cái nhìn về cuộc đời và con người.

Chiếc thuyền ngoài xa, với việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, mới lạ, mang ý nghĩa sâu sắc khám phá, và cách trao ngòi bút cho nhân vật kể chuyện (nhân vật Phùng) đã để lại ấn tượng sâu đậm. Tác phẩm đã đem lại cho người đọc những chiêm nghiệm thú vị về cuộc đời, con người và cả nghệ thuật.

Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa đầy đủ nhất (15 Mẫu)

Bài văn mẫu 1

Nguyễn Minh Châu: “Là một trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học”. Trước cách mạng sáng tác của ông thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, sau cách mạng bằng sự tìm tòi, đổi mới, ngòi bút của ông hướng hẳn vào những vấn đề thế sự, đời tư, đi sâu vào cuộc sống của con người. Chiếc thuyền ngoài xa khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người trong cuộc sống muôn mặt đời thường. Tác phẩm mang đặc trưng phong thái sáng tác của ông sau cách mạng.

Mở đầu tác phẩm là một khung cảnh tuyệt mĩ, là cảnh đắt trời cho với chiếc thuyền mơ mộng, bình yên trong khung cảnh bầu trời sương lãng đãng, lại pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Cùng với đó là vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im như tượng trên chiếc mui khum khum đang hướng mặt vào bờ. Quả thực đây là bức họa kì diệu, mĩ lệ mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Khung cảnh này là khung cảnh mà bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng mong muốn bắt gặp một lần trong đời làm nghệ thuật của tôi. Trước khung cảnh ấy, sao người nghệ sĩ hoàn toàn có thể không rung động, Phùng cảm thấy tâm hồn mình được thanh lọc, gột rửa và một niềm hạnh phúc trào dâng trong lòng. Phùng vừa hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao cho, nhưng hơn cả là Phùng đã tìm thấy tuyệt tác nghệ thuật.

Nhưng đằng sau bức tranh tuyệt đẹp đó là thực sự đau lòng đến đáng ngạc nhiên. Hiện thực trần trụi mở ra trước mắt Phùng, người đàn bà xấu xí, mặt rỗ, đi sau là người đàn ông cao lớn, dữ dằn, tấm lưng rộng và cong như lưng của một chiếc thuyền… Thì ra đằng sau nét đẹp tuyệt mĩ mà Phùng vừa mới phát hiện lại là khung cảnh cực kì tàn nhẫn, nơi mà bạo lực gia đình ra mắt hết sức khủng khiếp. Người đàn bà cam chịu, nhẫn nhục lẳng lặng đi trước, còn người đàn ông đi phía sau, không nói một lời, nhưng tự nhiên trở thành hùng hổ, mặt mũi đỏ gay dùng ngay chiếc thắt lưng vụt tới tấp vào người vợ. Trước khung cảnh ấy người nghệ sĩ Phùng“ngạc nhiên đến thẫn thờ”, “mấy phút đầu cứ đứng há mồm ra mà nhìn”, “chết lặng”… Khung cảnh ấy đã cho nghệ sĩ Phùng nhận thức đầy đủ và chân thực hơn về cuộc sống: cuộc sống vốn không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng rất nhiều nghịch lí, trong cuộc sống luôn tồn tại cả xấu – tốt, đúng – sai, rồng phượng, rắn rết. Bởi vậy, khi nhìn nhận bất kỳ vấn đề nào cũng phải nhìn sâu, nhìn kĩ, đừng vội vã đánh giá sự vật hiện tượng qua vẻ bề ngoài của nó.

Nếu như đầu tác phẩm người đàn bà hàng chài mới chỉ hiện lên ở những nét vẽ hết sức sơ xài, thì trong cuộc gặp gỡ ở tòa án huyện chân dung và số phận của chị đã được thể hiện rõ nét hơn. Người đàn bà hàng chài xuất hiện tại tòa án huyện là do anh đã vào can ngăn người anh xã đánh lại chị. Tuy nhiên anh đã bị thương, sau lần đó, anh quyết định nhờ đến sự can thiệp của Đẩu – người đại diện cho công lí, pháp lý để giúp đỡ người phụ nữ khốn khổ này.

Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi tuổi, thân hình thô kệch, cao lớn, khuôn mặt xấu xí, lại bị rỗ mặt do một trận ốm. Người đàn bà xuất hiện trong tư thế sợ sệt, lúng túng, vì vốn quen với môi trường sông nước, lạ lẫm khi bước vào căn phòng toàn bàn ghế, giấy tờ…. Chị ngồi thu mình ở mép ghế, lo lắng, sợ hãi. Chị sợ sự xuất hiện của tôi gây phiền hà, vướng víu cho người khác. Trên khuôn mặt chị không biểu lộ bất kỳ điều gì, bình yên và phẳng lặng, nếu ta không tồn tại tìm hiểu có lẽ sẽ không lúc nào biết hết được về người đàn bà này.

Thật nhẹ nhàng và bình thản chị kể về mẩu chuyện cuộc đời mình. Chị vốn được sinh ra trong một gia đình khá giả ở phố buôn bán những vật dụng phục vụ nghề chài lưới nhưng lại không được ưu tiên về nhan sắc, sau một trận đậu mùa mặt bị rỗ chằng chịt. Chị gặp gỡ và lấy được người anh xã hiện tại. Cuộc sống gia đình bắt đầu rơi vào thảm kịch khi họ sinh nhiều con, cuộc sống trên thuyền chật chội, bấp bênh, họ rơi vào cảnh cùng túng, quẫn bách. Anh anh xã vốn hiền lành trở thành cục cằn, dữ dằn, thường lôi chị ra đánh. Chị đúng là nạn nhân của bạo lực gia đình.

Nhưng đằng sau vẻ ngoài xấu xí ấy, còn là một người có nội tâm sâu sắc, một tâm hồn đẹp, nhân hậu. Trước hết người đàn bà hàng chài là một người thấu hiểu sâu sắc lẽ đời. Chị không muốn bỏ anh xã vì thứ nhất chị làm nghệ hàng chài, trên một chiếc thuyền của gia đình thì không thể thiếu vai trò của người đàn ông, nhất là khi biển động. Thứ hai một mình chị không thể gồng hành gánh nặng mưu sinh cho chín mười người con. Đối với chị hạnh phúc là khi được nhìn chúng ăn no. Thứ ba, cũng có thể có đôi lúc trên thuyền vợ anh xã chị cùng con cái quây quần, hạnh phúc, dù ít ỏi nhưng nó cũng phần nào xoa nhẹ nỗi đau về thân xác sau mỗi lần bị anh xã đánh.

không chỉ là vậy, chị còn là người có tấm lòng nhân hậu, bao dung. toàn bộ mọi người đều đề xuất giải pháp từ chối, tẩy chay gã đàn ông, riêng chị thì không. Chị sẵn sàng đứng im chịu trận, không chống trả, không bỏ chạy. Rất thấu hiểu anh xã, thông cảm cho anh xã. Và đẹp đẽ nhất đúng là đức hi sinh, tình yêu thương con sâu sắc. Chị sẵn sàng chịu những trận đòi ròn của anh xã để đàn con được ăn no, ngủ yên. Lo thằng Phác sẽ có những hành động sai trái, chị gửi nó lên ở với ông ngoại, để nó không nhìn thấy bố đánh mẹ, để nó khỏi đau lòng và không tồn tại những hành động trái với luân thường đạo lí. Đối với chị thú vui, niềm hạnh phúc rất đơn giản, là khi gia đình hòa thuận, khi nhìn thấy lũ trẻ được ăn no. Chị yêu con, thương con, mong con khôn lớn nhưng không thể bảo vệ được tâm hồn của những con. Người đàn bà hàng chài hiện ra là hình ảnh đại diện cho những con người vô danh, nghèo khổ, lam lũ nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý khiến họ trở thành không nhỏ xíu mà là hiện thân của những gì đẹp đẽ nhất.

Bên cạnh người đàn bà hàng chài, ta cũng không thể không nhắc đến Phùng, một người nghệ sĩ tài hoa, nhạy cảm trước nét đẹp. Khi phát hiện ra cảnh đắt trời cho, trong lòng anh xúc cảm trào dâng: rung động, tâm hồn được thanh lọc, hạnh phúc tràn ngập tâm hồn, lôi máy ảnh ra bấm liên thanh…

không chỉ là vậy anh còn là người có trách nhiệm, có tấm lòng với cuộc đời và con người. Khi chứng kiến cảnh bạo hành, anh sẵn sàng vứt chiếc máy ảnh xuống để giúp đỡ người phụ nữ tội nghiệp. Lần thứ hai can thiệp anh đã bị thương và vì vẫn còn đấy đó lo lắng cho người phụ nữ kia anh đã nhờ đến sự giúp đỡ của chánh tòa án huyện. Ngoài ra, anh còn là người nghệ sĩ luôn trăn trở với thiên chức nghề nghiệp của tôi. Anh phát hiện ra nét đẹp tuyệt mĩ, nhưng đằng sau nét đẹp lại là cái xấu, là hiện thực trần trụi. Chiếc thuyền ngoài xa đúng là hình ảnh cuộc đời khi nhìn ở xa, khi quan sát với cái nhìn hời hợt. Bởi vậy, cần nhìn nhận con người, sự việc thấu đáo, toàn diện. Cùng với đó là bức tranh xuất hiện cuối tác phẩm, đem lại cho người nghệ sĩ Phùng một chiêm nghiệm khác đúng là nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, không được xa rời cuộc sống và phải quay trở về để phục vụ cuộc sống.

Với sự cách tân đổi mới trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Nguyễn Minh Châu đã tạo ra tác phẩm xuất sắc. Không lấy những người hùng làm nhân vật trung tâm mà đi sâu tìm tòi, phát hiện vẻ đẹp ở những con người bình thường. Tác phẩm cũng là những đúc kết thấu đáo về nghệ thuật và con người: về con người, phải nhìn nhận đa chiều, đa diện, không nên đánh giá phiến diện, một chiều; về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính phải gắn liền với cuộc đời, xuất phát từ cuộc đời và quay quay về phục vụ cho cuộc đời.

Bài văn mẫu 2

Nguyễn Minh Châu (1930-1989) là nhà văn quân đội. Ông là một trong những cây bút tiên phong của nền văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới (cuối thế kỉ XX). Những tập truyện ngắn: “Người đàn bà trên chuyến tốc hành”, “Bến quê”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Cỏ lau”,… đã thể hiện tài năng nghệ thuật đặc sắc, in đậm phong thái tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu.

Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được tác giả viết vào năm 1983, xuất bản năm 1987. Nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, chánh án Đẩu, người đàn bà thuyền chài mặt rỗ và thằng bé Phác là những nhân vật được tác giả khắc hoạ khá sắc sảo, để lại cho người đọc bao ấn tượng, bao ám ảnh về màu sắc lãng mạn của nghệ thuật và thực sự trần trụi của đời thường.

Nghệ sĩ Phùng đã “vác” máy ảnh quay về vùng biến nơi chiến trường cũ của anh thời đánh Mĩ. Cảnh biển buổi sáng có sương mù mà anh “phục kích” mấy buổi sáng vẫn vẫn chưa tìm ra. Anh háo hức muốn thu vào tờ lịch tháng bảy năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc bình minh thì sáng nay anh đã gặp “hên” một cảnh “trời cho”, có lẽ suốt một đời cầm máy vẫn chưa lúc nào dám mơ tưởng đến. Đó là cảnh “thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù white color như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Và bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. toàn bộ khung cảnh ấy nhìn qua qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi…”.

Trong ánh nhìn của người nghệ sĩ, Phùng cảm thấy trước mặt mình là “một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Bao mĩ cảm đã dâng lên dào dạt trong lòng, anh xúc động “bồn chồn”, và trái tim của anh “như có cái gì bóp thắt vào”. Đối diện với bức tranh “thật đẹp và toàn bích” ấy, nghệ sĩ Phùng cảm thấy cực kì hạnh phúc, anh mới thấm thía “bản thân trong nét đẹp đúng là đạo đức” như ai đó lần đầu đã phát hiện ra; trong giây phút bồn chồn đó, anh ” vừa khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. nét đẹp và nghệ thuật đã thanh lọc tâm hồn người, làm cho hồn người trở thành thánh thiện.

Và khi đã chạm tới gấu áo của vị thần nghệ thuật, Phùng đã bấm “liên thanh” một hồi hết một phần tư cuộn phim, thu vào chiếc Pra-ti-ca. Cái khoảnh khắc ấy đối với anh là cực kì hạnh phúc, và anh đã “ngộ” ra – “hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình do nét đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”.

Có một điều mà bạn đọc cần lưu ý, đó là nơi nhà nhiếp ảnh ngồi bấm máy. Chẳng phải Lầu Hoàng Hạc, chẳng phải là một chốn Bồng Lai mà chí là một bãi biển còn đầy tàn tích chiến tranh với bao xác xe tăng, xe rà phá mìn của công binh Mỹ thua chạy bỏ lại. Phùng ngồi bấm máy phải “rúc vào bên bánh xích của một chiếc xe tăng để tránh mưa”. Chi tiết này rất quan trọng, nó cho thấy cảnh biển mù sương và con thuyền trong bình minh tuy có đẹp, nhưng nét đẹp ấy vẫn chưa trọn vẹn. Vết thương chiến tranh còn in hằn trên bãi biển và trong lòng ngư dân. Chỉ vì Phùng, với tâm hồn lãng mạn của người nghệ sĩ, anh mới thi vị hóa, thần tiên hoá hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa, để rồi sau đó, anh sẽ bị hẫng.

Một tình huống đầy thảm kịch đã xảy ra. Một cảnh đời ngang trái, quá phũ phàng và cực kì tàn nhẫn đã ra mắt khi chiếc thuyền “đâm thẳng” vào bờ, vào ngay trước chỗ nhà nhiếp ảnh đứng. Phùng không chỉ là nhìn thấy, được chứng kiến mà còn được tham gia vào những chuyện trớ trêu, đau lòng.

Còn đâu nữa cái white color, màu hồng của bức tranh “toàn bích” khi một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền lội qua một quãng bờ phá đi lên bãi cát. Một tiếng nói chõ như quát cất lên: “Cứ ngồi nguyên đấy, động đậy tao giết cả mày lúc này”. Người đàn bà ngoài bốn mươi tuổi, cao lớn, thô kệch, rỗ mặt, mệt mỏi, tái ngắt… Người đàn ông đi sau “lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền; mái tóc tổ quạ, chân chữ bát, lông mày cháy nắng, rủ xuống”,… Lão đàn ông con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới rưới, nửa thân ướt sũng của người đàn bà”.

Những gì xảy ra đã xảy ra sau đó. Bãi cát, nơi xác chiếc xe rà phá mìn trở thành nơi hành tội. Khi người đàn bà “đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng” (hoàn toàn có thể người mẹ nhìn mấy đứa con) thì một sự việc ra mắt cực kì khủng khiếp! Lão đàn ông “trở thành hùng hổ, mặt đỏ gay”, hắn lồng lên như một con thú dữ. Lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, cái vũ khí thường ngày của kẻ gần như mất hết cả nhân tính, “quật tới tấp vào lưng người đàn bà”. Hắn “vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két”. Lão “trút cơn giận như lửa cháy” vào người đàn bà tội nghiệp, đáng thương. Lão nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ!”. Mày và chúng mày mà lão nói tới là vợ con của lão.

Thật kì lạ là người đàn bà khổ nạn ấy không kêu một tiếng, không chống trả, không trốn chạy mà “cam chịu đầy nhẫn nhục”. Hình ảnh đau lòng đó đã làm cho nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh “ngạc nhiên”, “đứng há mồm ra mà nhìn” trong mấy phút. Khi Phùng vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới thì có một thằng bé con tức giận “như một viên đạn lao tới đích đã nhắm” lao thẳng vào cái lão đàn ông. Đứa bé với một sức mạnh ghê gớm đã giằng được chiếc thắt lưng, vung chiếc khoá sắt quật vào giữa ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen loăn xoăn của lão đàn ông. Giằng không được cái dây thắt lưng da, lão ta dang thẳng cánh cho thằng bé hai tát khiến thằng bé ngã dúi xuống cát.

Tiếng gọi: “Phác, con ơi!” của người mẹ tội nghiệp cất lên. Hình ảnh người đàn bà “ôm chầm lấy thằng bé, rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để rồi ôm chầm lấy… Và hình ảnh thằng nhỏ “lặng lẽ đưa ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ” lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt, toàn bộ đã làm cho nhà nhiếp ảnh Phùng, cho từng chúng ta tê tái bàng hoàng. Đứa con đến để cứu mẹ, để chặn bàn tay của con người thú.

Phùng “ngơ ngác nhìn” ra bờ phá khi người đàn bà buông đứa con ra, đi thật nhanh đuổi theo lão đàn ông vừa đánh mụ, rồi cả hai cùng đi về thuyền. Bãi cát hoang sơ mà mênh mông, tiếng sóng kêu ồ ồ cất lên, Bức hình thế sự ấy ra mắt “như trong truyện cổ quái đản”, chiếc thuyền vó đã biến mất, chắc đã làm cho cách nghĩ, tầm nhìn và cảm quan nghệ thuật của nghệ sĩ Phùng thay đổi? Bức hình thế sự trần trụi ấy đã được Nguyễn Minh Châu kí hoạ, đã được nhà nhiếp ảnh Phùng mục kích và bấm máy thật giàu ý nghĩa sâu sắc. Nghệ thuật hướng về nét đẹp, nhưng không thể là sự lừa dối. Lãng mạn hoá cuộc đời, bối hồng tô son hiện thực cuộc đời là vô nghĩa khi cuộc đời còn nhiều mồ hôi và nước mắt!

Với Phùng hoàn toàn có thể coi đây là một chuyến đi nhiều ý nghĩa sâu sắc: chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, ẩn hiện trong sương mù, còn thực sự cuộc đời thì lại trần trụi, ờ rất gần ngay trước mắt. Qua đó, ta càng thấy rõ chân lí cuộc đời có những lúc, có nơi không phải là chân lí nghệ thuật. Nguyễn Minh Châu qua “Chiếc thuyền ngoài xa” đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với nhà nghệ sĩ chân chính giàu bản lĩnh.

mẩu chuyện người đàn bà làng chài ở trụ sở toà án huyện đã lí giải cho Phùng và Đẩu, đã giúp chúng ta nắm vững thực sự trần trụi trước mọi thảm kịch bạo hành trong gia đình, hiểu sâu hơn tấm lòng và tâm lí của người phụ nữ trong nỗi éo le cuộc đời.

Người đàn bà mặt rỗ lúc đầu chỉ dám ngồi ở góc tường, khi được Đẩu mời, mụ mới “rón rén” đến ngồi vào mép chiếc ghế và cố thu người lại. Khi nghe vị Chánh án nói, mụ ngước lên nhìn rồi lại “cúi mặt xuống”. Có lẽ lần đầu đến cơ quan nhà nước, mụ mới sợ như vậy. Mụ chắp tay vái lia lịa Đẩu và xưng là : “Con lạy quý tòa…”. Mụ nhấp nhổm xoay mình như bị kiến đốt! Nghe mụ khẩn xin mà xót xa: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Sống với một kẻ vũ phu, “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” thế mà mụ vẫn khẩn xin quý tòa “đừng bắt con bỏ nó”. Chánh án Đẩu làm sao hiểu được nỗi éo le đó. Nhà nhiếp ảnh Phùng thì cảm thấy “ngột ngạt quá!”.

Khi nghe vị chánh án gọi bằng bà, và nói rõ chủ trương của toà án là kêu gọi hoà thuận, chị ta “ngơ ngác” nhìn Đẩu, nhìn Phùng, chị ta thay đổi cách xưng hô, tự xưng là chị, gọi Đẩu và Phùng là chú rất khẩn thiết, rất chân thành.

Mụ kể về thời con gái của tôi, mụ tâm sự về chuyện lấy anh xã của tôi: mặt rỗ, xấu gái, không ai lấy, rồi có mang với anh con trai… “lão anh xã tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không lúc nào đánh đập tôi”.

Mụ kể chuyện từ ngày cách mạng về đỡ khổ, chứ trước đày những lần động biển, vợ anh xã con cái toàn ăn xương rồng luộc chấm muối suốt hàng tháng trời. Chị ta than thở gia cảnh nghèo, thuyền quá nhỏ… Đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá; đàn ông ở thuyền hoặc uống rượu hoặc đánh vợ, bất kể lúc nào, hễ thấy khổ quá là xách vợ ra đánh. Chị ta cho biết nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không tồn tại đàn ông, nhất là những khi biển động sóng gió để chèo chống. “Ông trời sinh ra đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho tới khi khôn lớn, cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở đất được…”. Chị cho biết anh xã chị ngày trước cũng trốn đi lính ngụy. Chị cũng có thể có thú vui là khi vợ anh xã con cái “sống hoà thuận vui vẻ”, “vui nhất là ngồi nhìn đàn con được ăn no “,v.v…

Sự nhẫn nhục, đức hi sinh của người đàn bà mặt rỗ thật bao la. Chị ta cam chịu khi bị anh xã đánh. Chị ta chỉ xin anh xã đừng đánh minh trước mặt đàn con. Chị ta sợ đứa con trai tên là Phác làm điều gì dại khờ đối với bố nó nên phải gửi nó lên rừng ở với ông ngoại. Chị ta đã khóc khi nghe Phùng nhắc đến tên thằng Phác.

Chỉ qua những lời giãi bày chân thực đó, ta mới hoàn toàn có thể hiểu được nỗi khổ, sự cam chịu nhẫn nhục, đức hi sinh thầm lặng, tình thương con mênh mông của người đàn bà làng chài đáng thương; ta mới thấu hiểu được cái căn nguyên sâu xa của tệ nạn bạo lực trong những gia đình nghèo cực. Nếu hiểu sự việc một cách đơn giản, chỉ việc yêu cầu, chỉ kí quyết định bắt người đàn bà mặt rỗ bỏ anh xã là xong. Nhưng nếu nhìn chuyện đời một cách thấu suốt, rất nhân tinh, rất đời, thì ta sẽ thấy cách nghĩ, cách sống, cách xử sự của người vợ, người mẹ ở trong truyện là không thể khác được.

Biết được đáy vực nông, sâu là đã khó. Biết lấy được lòng người xấu, tốt, biết được nỗi lòng, nỗi đời, cảnh ngộ của con người đâu dễ! Qua mẩu chuyện người đàn bà ở toà án huyện, ta càng thấy rõ: không thể đơn giản, dễ dãi khi nhìn người, nhìn đời, khi đánh giá hiện tượng trong xã hội, trong cuộc sống. Không thể hấp tấp vội vàng. Nếu thiên kiến, định kiến, duy ý chí là sai. Có lòng tốt, ý định tốt vẫn chưa đủ. Mà phải suy xét, xem xét vừa có tình vừa có lí, vừa được việc vừa được người.

Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” có nhiều tình huống rất bất ngờ hấp dẫn. Mỗi một tình huống xuất hiện, tính kịch của mẩu chuyện lại được nâng cao, được khắc sâu. Nhà nhiếp ảnh Phùng lúc đầu phát hiện ra hình ảnh chiếc thuyền chài hiện ra trong sương mù và đã bấm máy “liên thanh” hết một phần tư cuộn phim và ngây ngất trước nét đẹp của ngoại cảnh là một tình huống thơ mộng. Chuyện người đàn ông chân chữ bát dùng dây thắt lưng lính ngụy đánh mụ vợ mặt rỗ và thằng Phác đánh lại bố hắn để bảo vệ người mẹ thương yêu là một tình huống bất ngờ ra mắt trước mắt Phùng làm cho tính thảm kịch đầy nước mắt. Chuyện lão thuyền chài lại đánh vợ, đánh bị thương Phùng – kẻ dám đến can ngăn; chuyện chị gái cướp lấy con dao mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ người mẹ tội nghiệp, đều là tình huống cực kì cay đắng, dữ dội. mẩu chuyện của người đàn bà mặt rỗ kể ở cơ quan toà án huyện… là tình huống nói về sự éo le của cuộc đời, về thân phận tủi nhục đắng cay của người đàn bà nghèo, đông con ở làng chài.

Qua những tình huống đó, nhà nghệ sĩ Phùng mới thấm thía rằng: nghệ thuật không thể lãng mạn hoá, thi vị hoá cuộc đời khi cuộc đời còn đầy ngang trái. Chánh án Đẩu mới thấu hiểu toà án không chỉ là để thực thi công lí, pháp lý mà con phải soi sáng lòng dân, tình dân. Và mỗi chúng ta mới hiểu: cuộc sống đã và đang ra mắt là cực kì phức tạp, không thể đơn giản hoặc chỉ nhìn một chiều, một phía, một cạnh.

Tính tình huống đã làm cho truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” vừa chân thực, vừa mang giá trị nhân bản sâu sắc. Phải chăng cuộc đời lam lũ nghèo khổ, nheo nhóc, sự tối tăm ngu dốt… là một trong những nguyên nhân gây ra nạn bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em trong một số gia đình Việt Nam lâu nay? Phải chăng Nguyễn Minh Châu đã kín đáo nói về một căn nguyên đầy nước mắt mà thi hào Nguyễn Du đã viết trong “Văn chiêu hồn” hơn hai thế kỉ trước:

“Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”

Bài văn mẫu 3

Nhà văn Nguyễn Minh Châu sinh vào năm 1930, quê ở xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh TP. Nghệ An. Ông tham gia bộ đội năm 1950, chiến đấu ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ rồi vào chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên. Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời chống Mĩ, đồng thời cũng là người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới văn học từ sau năm 1975. Ở giai đoạn trước, ông là ngòi bút có khuynh hướng lãng mạn, sử thi. Ở giai đoạn sau, ngòi bút của ông chuyển sang đề tài thế sự, quan tâm tới đời sống của con người trong đời thường với những vấn đề về đạo đức, về triết lí nhân sinh. Tập truyện ngắn Những vùng trời không giống nhau (1970), tiểu thuyết Dấu chân người lính (1972) với hình tượng trung tâm là những người lính đang chiến đấu chống quân xâm lược Mĩ, giải phóng miền Nam, thống nhất giang sơn đã khẳng định tài năng và tên tuổi Nguyễn Minh Châu trong văn học hiện đại. Ông cũng là nhà văn đi đầu trong công cuộc đổi mới văn học với mối quan tâm đặc biệt tới phẩm giá, đạo đức, quan niệm sống của 1 con người trong đời thường. Điều đó được thể hiện qua những tác phẩm như tiểu thuyết Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977) và những truyện ngắn như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quế, Khách ở quê ra, Bức tranh. Năm 2000, Nguyễn Minh Châu được Nhà nước trao tặng phần thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật.

Chiếc thuyền ngoài xa sáng tác năm 1983 là truyện ngắn xuất sắc nhất của ông ở giai đoạn sau; nội dung kể về chuyến đi thực tiễn của một nghệ sĩ nhiếp ảnh, qua đó thể hiện cách nhìn của tác giả về hiện thực cuộc sống, một chiếc nhìn thấu hiểu và thấm đẫm tình thương cùng sự do dự, day dứt về thân phận con người. Tác giả cùng gửi gắm trong truyện ngắn này những chiêm nghiệm sâu sắc của tôi về nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn bó với cuộc đời. Người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách hời hợt, giản đơn mà cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người bằng cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt của lí trí phối kết hợp với rung động chân thành của trái tim nhân ái.

Tác giả đã thể hiện phẩm chất đẹp đẽ của con người lao động trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn và hành trình kiếm tìm hạnh phúc. Những “hạt ngọc tâm hồn” không hiện ra trong lửa đạn chiến tranh, mà lẩn khuất giữa đời thường đầy sóng gió.

nói tới nghệ thuật viết truyện ngắn, người ta thường nhắc đến ba yếu tố: Nhân vật, giọng điệu trần thuật và tình huống truyện. Trong số đó, việc sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo đóng vai trò then chốt, quyết định thành công của tác phẩm. Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: tình huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính bước ngoặt của nhân vật, tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Chiếc thuyền ngoài xa sở dĩ được đánh giá là tác phẩm xuất sắc bởi tác giả đã xây dựng được một tình huống truyện hết sức độc đáo. Đó là tình huống nhận thức và khám phá về cuộc sống và nghệ thuật của hai nhân vật Đẩu và Phùng.

Tình huống bất ngờ trong truyện đã làm thay đổi nhận thức của hai người trước những nghịch lí của cuộc sống. trong lúc thiên nhiên có vẻ đẹp toàn bích thì cảnh đời lại u ám, đáng buồn. Người có thiện chí giúp đỡ nạn nhân lại bị nạn nhân từ chối quyết liệt. Người vợ bị anh xã hành hạ, ngược đãi, thế nhưng vẫn cam chịu, quyết không bỏ anh xã và lại còn bênh vực. Người anh xã vẫn có trách nhiệm với gia đình nhưng ngày nào cũng hành hạ vợ.

Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh được trưởng phòng giao nhiệm vụ đi chụp một cảnh biển sớm mai để bổ sung vào bộ ảnh lịch. Anh về lại vùng ven biển miền Trung, nơi trước đây đã từng tham gia chiến đấu chống Mĩ. Phùng tái ngộ Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa giờ là chánh án tòa án huyện và được Đẩu tận tình giúp đỡ. May mắn thay, sau mấy buổi sáng kiên nhẫn “mai phục”, Phùng đã bắt gặp khoảnh khắc kì diệu của nét đẹp nghệ thuật: Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh vẫn chưa lúc nào tôi được thấy một cảnh “đất” trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù white color như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hưởng mặt vào bờ. toàn bộ khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở thành bồn chồn, trong trái tim như có gì bóp thắt vào.

Đoạn văn trên đẹp như một bài thơ. Nguyễn Minh Châu đã sử dụng ngôn ngữ rất tài tình để vẽ lên bức tranh cảnh biển buổi sáng mờ sương có đủ đường nét, ánh sáng, sắc màu và cả hình ảnh của con người. Trong màn sương sớm trắng như sữa, phớt chút ánh hồng ấm cúng của ban mai, hình ảnh chiếc thuyền từ ngoài xa đang hướng mũi vào bờ đẹp như mơ. Trên mui thuyền, những dáng người ngồi im lặng đầy chất tạo hình. Cận cảnh là tấm lưới vó, viễn cảnh là chiếc thuyền thấp thoáng trong sương. Khung cảnh hài hòa đến độ toàn bích khiến trái tim người nghệ sĩ nhiếp ảnh như thắt lại vì cảm giác sung sướng và hạnh phúc. Đó đúng là niềm hạnh phúc của sự khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận trước nét đẹp tuyệt diệu.

Hình như khi nhìn thấy hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa bồng bềnh giữa trời biển mờ sương, Phùng cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trở thành trong trẻo, tinh khôi bởi vẻ đẹp huyền diệu của thiên nhiên. Chẳng phải lựa chọn, dịch chuyển gì, anh nhanh nhẹn gác máy lên bánh xích của chiếc xe tăng hồng, bấm máy liên tục, thu vào một phần tư cuộn phim niềm hạnh phúc tột đỉnh của sự khám phá, sáng tạo ấy.

Khi cái cảm giác ngất ngây, thỏa mãn do cảnh đẹp tuyệt vời vừa mang lại cho mình vẫn chưa kịp tan đi thì ngay sau đó, Phùng tình cờ chứng kiến một cảnh tượng đau lòng xảy ra ngay trước mắt: Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền. Họ phải lội qua một quãng bờ phả nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi nghe người đàn ông nói chõ lên thuyền như quát: “Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tao giết cả mày đi lúc này”.

Họ hiện ra ở một khoảng cách rất gần, đủ để Phùng nhận thấy từng nét rõ trên khuôn mặt của người đàn bà và vẻ mặt độc ác đáng sợ của người đàn ông: Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rõ mặt Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và Hình như đang buồn ngủ. Người đàn ông đi sau. Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà… Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân.

Những gì xảy ra trước mắt khiến Phùng không thể tưởng tượng nổi. Bãi cát, nơi có xác chiếc xe rà phá mìn bị hỏng trở thành nơi hành tội: Khi người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng thì: Lão đàn ông lập tức trở thành hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa,… quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.

Thật kì lạ là người đàn bà khốn khổ ấy không hề kêu rên một tiếng, không chống trả, không trốn chạy mà nhẫn nhục cam chịu. Cảnh tượng đó đã làm cho Phùng ngạc nhiên đến mức, trong mấy phút đầu… cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Khi anh vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới thì một thằng bé con tức giận như một viên đạn lao tới đích đã nhắm thẳng vào lão đàn ông. Đứa bé với sức mạnh ghê gớm đã giằng được chiếc thắt lưng, liền rướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng… của lão. Giằng không được cái thắt lưng da, lão ta liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát… Đứa con đã liều lĩnh lao đến cứu mẹ, để chặn bàn tay tàn bạo của người cha đang trong cơn tức giận điên cuồng.

Khi biết có người lạ chứng kiến cảnh bạo hành vừa xảy ra, người đàn bà Hình như lúc này mới cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa cực kì xấu hổ, nhục nhã. Tiếng gọi: Phác, con ơi! của người đàn bà tội nghiệp cất lên đầy tủi nhục và cay đắng. Hình ảnh người đàn bà ngồi xẹp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy… thật khác thường và cũng thật xúc động. Chị ta lạy đứa con mình vì sợ nó thương mẹ, bênh mẹ mà đánh bố là phạm vào tội bất hiếu. Và hình ảnh thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt đã để lại ấn tượng khó quên trong tâm trí Phùng.

Cảnh tượng ra mắt và kết thúc quá nhanh khiến Phùng ngơ ngác nhìn ra bờ phải khi người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh… đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền. Điều kì lạ là: Như trong mẩu chuyện cổ đầy quái đản, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất khiến Phùng bàng hoàng, sững sờ không hiểu vì sao!

Nguyễn Minh Châu đã phản ánh một nghịch lí của cuộc sống: khung cảnh thiên nhiên thì toàn bích nhưng cảnh tượng đời thường thì tăm tối, đáng buồn.

Lần thứ hai chứng kiến cảnh bạo hành, Phùng chạy tới bênh vực người đàn bà. Lão đàn ông đánh anh bị thương. Anh được đưa về trạm y tế của tòa án huyện và tình cờ anh đã được nghe người đàn bà xấu số kể về gia cảnh của tôi. Phùng và Đẩu lắng nghe với sự cảm thông và thương xót thật sự.

Sau khi thấy những biện pháp giáo dục, răn đe người anh xã không tồn tại kết quả, Đẩu với tư cách là chánh án đã mời người đàn bà đến tòa án để trao đổi về vấn đề này. Tuy đây là lần thứ hai được mời đến tòa, nhưng người đàn bà vẫn có vẻ sợ sệt, lúng túng. Lúc đầu, chị ta chỉ dám ngồi ở góc tường, Đẩu mời lần nữa mới rón rén đến ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại. Khi nghe vị chánh án hòi: Thế nào, chị đã nghĩ kĩ vẫn chưa? thì người đàn bà ngước lên nhìn rồi lại cúi mặt xuống đáp nhò: Thưa …

Chánh án Đẩu tưởng người đàn bà hiểu được ý mình nên có thái độ thân thiện và chân thành hơn: Đẩu gật đầu. Anh vùng lên. Tự nhiên anh rời chiếc bàn đến đứng vịn vào lưng ghế người đàn bà đang ngồi, giọng trở thành đầy tức giận, khác hẳn với giọng một vị chánh án: – Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. toàn quốc không tồn tại một người anh xã nào như hắn. Tôi vẫn chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị sống không nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào?

Đẩu khuyên chị ta nên li hôn để khỏi bị lão anh xã hành hạ, ngược đãi. Có lẽ Đẩu tin rằng giải pháp mình đưa ra là đúng, nhưng sau buổi nói chuyện thì mọi lí lẽ của anh ta đều bị người đàn bà khốn khổ ấy bác bỏ.

Vị chánh án vừa dứt lời thì người đàn bà sợ hãi ngước lên nhìn rồi lại cúi mặt xuống. Chị ta chắp tay vái lia lịa và xưng con với Đẩu: Con lạy quý tòa… Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó… Đẩu ngạc nhiên bật hỏi: Sao, sao? tỏ vẻ không hiểu được sự éo le đó. Còn Phùng, sau câu nói của người đàn bà, anh cảm thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở thành ngột ngạt quá.

Khi nghe vị chánh án đang gọi mình bằng chị bỗng chuyển sang gọi bằng bà và nói rõ chủ trương kêu gọi hòa thuận – tức là đồng ý với sự cầu xin của tôi thì người đàn bà ngơ ngác hết nhìn Đẩu lại nhìn Phùng. Đến lúc hiểu ra, chị ta liền thay đổi cách xưng hô, tự xưng là chị, gọi Đẩu, Phùng là những chủ bằng giọng điệu thân thiết, chân tình: Chị cám ơn những chú!… Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn những chú. Lòng những chú tốt, nhưng những chủ đâu có phải là người làm ăn… cho nên những chủ đâu có hiểu được cái việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc…

Rồi chị ta tâm sự về chuyện lấy anh xã của tôi. Thời trẻ, vì xấu gái nên chị không được ai để mắt tới. Rồi chị có mang với chàng trai làm nghề đánh cá cục tính nhưng hiền lành lắm,… tức là lão anh xã hung dữ lúc này.

Chị ta than thở về gia cảnh nghèo nàn, chiếc thuyền lưới vó thì quá nhỏ hẹp. Chị lại đẻ nhiều quá, nuôi không xuể. Vì thế mà ra nông nỗi: …bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…

Đẩu và Phùng đã lắng nghe chị ta nói về nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền đánh cá không tồn tại đàn ông, nhất là những khi biển động. Giọng nói của chị ta như giãi bầy, mong được sự sẻ chia của người nghe: Mong những chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông đổ chèo chống khi phong ba, đó cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho tới khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong những chú lượng tình cho cái sự lỗi thời. những chú đừng bắt tôi bỏ nó Ị

Vẻ mặt của người đàn bà bớt sầu não phần nào khi kể rằng trong cuộc sống lam lũ, cực nhọc, đôi khi vẫn có thú vui. Ấy là khi vợ anh xã con cái sống hòa thuận vui vẻ, vui nhất là lúc nhìn đàn con được ăn no.

Chứng kiến cảnh người anh xã vũ phu đánh đập người vợ một cách tàn nhẫn và nghe lời kể của nạn nhân, Phùng và Đẩu chợt nhận thấy nghịch lí thứ hai của tình huống: Người vợ thường xuyên bị anh xã đánh đập, ngược đãi; nhưng vẫn nhẫn nhục cam chịu, quyết không bỏ anh xã và lại còn bênh vực lão. Người anh xã vẫn có trách nhiệm với gia đình nhưng ngày ngày cứ quen thói hành hạ vợ.

toàn bộ những điều trên tác động đến Đẩu và Phùng, khiến họ có sự thay đổi trong nhận thức, suy nghĩ và riêng Phùng đã có những phát hiện bất ngờ về quan hệ giữa hiện thực đời sống và nghệ thuật.

Trong Chiếc thuyền – ngoài xa, tình huống truyện giống như một vòng tròn đồng tâm mà nghệ sĩ Phùng cũng như chánh án Đẩu đều phải quay theo để rồi có được giây phút giác ngộ về thực chất của cuộc sống và vỡ lẽ ra nhiều điều mà trước kia họ chỉ suy nghĩ một chiều hoặc vẫn chưa lúc nào nghĩ tới. Chẳng hạn như đằng sau cái vô lí lại là cái có lí. Chuyện người đàn bà lam lũ bị anh xã hành hạ tàn nhẫn thường xuyên là vô lí, nhưng người đàn bà ấy không muốn bỏ anh xã lại rất có lí. Vấn đề tưởng chừng đơn giản hóa ra lại chất chứa nhiều điều phức tạp.

Phùng và Đẩu có nghề nghiệp không giống nhau: một là nghệ sĩ, một là chánh án, nhưng sự thay đổi nhận thức của họ lại giống nhau và đều xuất phát từ tấm lòng nhân hậu, từ mục đích đẹp đẽ. Sau khi nghe mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài, cả hai đều ngạc nhiên, ngỡ ngàng, rồi vỡ ra nhiều điều mới mẻ: Cuộc đời này đầy rẫy tình huống trái ngang mà sách vở vẫn chưa nói tới; còn có nhiều góc khuất trong tâm hồn con người mà nghệ thuật vẫn chưa đề cập đến.

Là một chánh án, Đẩu vừa làm phận sự là người đại diện cho pháp lý vừa tiến hành mệnh lệnh của trái tim. Anh muốn giải thoát người đàn bà khỏi những trận đòn tàn bạo của lão anh xã bằng lời khuyên li hôn. Anh tin lời khuyên của tôi là đúng nhưng anh đã lầm. thuở đầu, Đẩu tưởng li hôn là cách giải quyết dứt điểm được sự bạo hành, là cứu vớt được người đàn bà xấu số, nhưng nghe chị ta tâm sự thì anh thấy quan hệ vợ anh xã của họ phức tạp hơn nhiều. Từ đó, anh hiểu ra rằng: Muốn giải quyết những vấn đề phức tạp của cuộc sống, không chỉ là dựa vào thiện chí, vào pháp lý hoặc lí thuyết sách vở, mà phải thấu hiểu và cần phải có giải pháp thiết thực. Hóa ra lòng tốt của anh là lòng tốt phi thực tiễn. kiến thức và kỹ năng sách vở mà anh đã được học trở thành vô nghĩa trước những lí lẽ mộc mạc nhưng sâu sắc của người đàn bà thất học. Sự yên ấm của gia đình và tương lai của những đứa con buộc chị ta phải câm lặng và chịu đựng toàn bộ. Chị ta chỉ có một nguồn an ủi duy nhất là cuộc sống của tôi đâu phải chỉ toàn là những trận đòn tàn bạo của anh xã, mà còn có những giây phút hạnh phúc như khi vợ anh xã hòa thuận hoặc khi nhìn đàn con được ăn no.

Là người tính xuất ngũ về làm chánh án tòa án huyện vùng biển, Đẩu vẫn không thay đổi chất lính thẳng thắn, nhiệt tình chống lại cái ác, cái xấu. Phẫn nộ trước việc ngược đãi của người anh xã, xót thương người vợ bị bạo hành ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng nên anh đã đi ngược với phương châm lấy hòa giải làm đầu trong lúc giải quyết những vụ án li hôn mà bảo thẳng với người đàn bà: Chị không sống nổi với lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Anh thực thi luật pháp bằng lí thuyết sách vở và những nguyên tắc đạo đức. Chính vì vậy mà anh đã phán quyết có phần đơn giản trước cảnh ngộ đặc biệt của người đàn bà hàng chài. Đáp lại lòng tốt của anh, người đàn bà đã tế sống anh và năn nỉ xin tòa đừng bắt con bỏ nó. Người đàn bà dân chài thất học nhưng bằng sự từng trải sâu sắc đã khiến một chiếc gì vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công phố huyện. hoàn toàn có thể Đẩu bắt đầu hiểu ra rằng muốn giúp con người thoát khỏi cảnh sống đau khổ, tăm tối thì cần phải có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc những lí thuyết đẹp đẽ mà xa rời thực tiễn. mẩu chuyện của người đàn bà giúp chúng ta nắm vững thực sự về nguyên nhân thảm kịch bạo hành trong gia đình, đó là cảnh đói nghèo, bế tắc trong cuộc sống. Đồng thời, chúng ta cũng hiểu sâu hơn về đức hi sinh cùng tâm lí của người phụ nữ lao động trong mọi nghịch cảnh của cuộc đời.

Sau khi chứng kiến cuộc nói chuyện giữa người đàn bà hàng chài và chánh án Đẩu, Phùng bất chợt nhận thấy nhiều điều. nét đẹp của ngoại cảnh có khi che khuất cái xấu của đời sống. thuở đầu, Phùng ngây ngất trước vồ đẹp thơ mộng, huyền ảo của chiếc thuyền ngoài xa. Về sau, anh nhận thấy rằng cái vẻ đẹp phía bên ngoài đó đã che giấu thực tiễn nhức nhối bên trong. Ngược lại, cái xấu cũng hoàn toàn có thể lấn át nét đẹp. Tìm hiểu sâu về cảnh người đàn bà hàng chài, Phùng lại thấy thực tiễn nhức nhối đã làm cho những nét đẹp của con người bị lu mờ. Từ mối quan hệ phức tạp ấy, Phùng suy ngẫm và rút ra nhận xét: Để hiểu được thực chất của đời sống thì người nghệ sĩ không thể nhìn nhận một cách hời hợt, đơn giản, mà phải có cái nhìn đa chiều, tỉnh táo và sâu sắc. Phùng đã phát hiện ra những vẻ đẹp khác chứa đựng đằng sau những Bức hình và anh đã bỏ nhiều công sức mới chụp được. Nó không toàn bích như Bức hình chiếc thuyền ngoài xa mà phản ánh vẻ đẹp của đời thường đa đoan, đa sự. Người nghệ sĩ đừng lúc nào dùng cái nhìn đơn điệu, một chiều trước cuộc sống vốn phức tạp và bí hiểm. Nghịch lí cuộc đời vẫn luôn là điều thử thách đối với mỗi chúng ta nên đừng vì khao khát nét đẹp nghệ thuật mà quên đi hiện thực, bởi nghệ thuật chân chính được khơi nguồn từ cuộc đời và được sáng tạo ra vì cuộc đời. Trước khi là người nghệ sĩ biết rung động trước nét đẹp thì hãy là con người biết yêu, ghét, vui, buồn trước mọi lẽ thường tình, biết hành động vì những điều đẹp đẽ của cuộc sống.

thực sự trần trụi chứa đựng bên trong Chiếc thuyền ngoài xa chắc chắn đã làm cho cách nhìn, cách nghĩ và cảm quan nghệ thuật của Phùng thay đổi. Bức hình thế sự đã được Nguyễn Minh Châu phác họa, được nhà nhiếp ảnh chứng kiến và bấm máy thật giàu ý nghĩa sâu sắc. Nghệ thuật hướng về nét đẹp nhưng không thể là sự lừa dối. Lãng mạn hóa cuộc đời, bôi hồng tô son hiện thực cuộc đời là giả dối và vô nghĩa trong lúc hiện thực cuộc đời còn nhiều mồ hôi và nước mắt.

Phùng bàng hoàng nhận thấy sau cảnh đẹp như mơ của chiếc thuyền ngoài xa là bao nhiêu điều ngang trái, xót xa. Tình huống truyện được tạo ra bởi sự tương phản giữa vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa với sự éo le trong gia đình hàng chài. Chính gánh nặng mưu sinh anh xã chất trên vai đã biến người anh xã thành kẻ vũ phu và khiến người vợ vì thương con, vì sự nghiệt ngã của nghề đi biển, vì hoàn cảnh sống thiếu thốn trên thuyền và nhất là vì sự thấu hiểu người anh xã hiền lành nhưng cục tính nên đã nhẫn nhục chịu đựng những hành động tàn bạo của anh xã. Nhưng người mẹ ấy không biết là mình đã làm tổn thương tâm hồn những đứa con. Thằng Phác vì thương mẹ, bênh vực mẹ mà thành ra đáng ghét chính cha đẻ của tôi.

Phùng cay đắng nhận thấy thảm kịch và cái ác lộng hành trong gia đình thuyền chài kia như thứ thuốc rửa quái đản, làm cho những thước phim huyền diệu mà anh dày công chụp được bỗng hiện hình khủng khiếp, ghê sợ. Giống như chiếc thuyền ngoài xa có vẻ đẹp huyền ảo trong sương sớm, khi ra khỏi khoảng cách xa xôi, huyền ảo hoặc phơi mình dưới ánh mặt trời thì sẽ trở thành xấu xí, tầm thường.

Sau khi gặp và nghe người đàn bà xấu số nói về chính mình ở tòa án huyện thì Phùng mới vỡ lẽ ra nhiều điều về con người và cuộc sống xung quanh. Anh đã hiểu vì sao người đàn bà ấy cam chịu đến nhẫn nhục, cắn răng chung sống với người đàn ông coi việc đánh vợ như phương thức duy nhất để giải tỏa khổ đau, uất ức. Thì ra, trên thuyền rất cần phải có một người đàn ông bởi nhiều khi biển động, sóng to gió cả. Vả lại, ông trời sinh ra người đàn bà để đẻ con và nuôi con khôn lớn. Người vợ cần phải có một người anh xã để cùng làm lụng nuôi con. Chị ta hiểu rất đúng rằng chỉ vì đói nghèo, túng quẫn mà anh xã mình hóa ra hung bạo. Tình thương con và lòng vị tha khiến chị quên đi nỗi đau triền miên như sóng biển, còn niềm hạnh phúc hiếm hoi như châu ngọc thì chị giữ lấy làm nguồn an ủi: Trên thuyền cũng có thể có những lúc vợ anh xã con cái hòa hợp vui vẻ,… Chị nói thật lòng: Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con được ăn no.

mẩu chuyện khép lại bằng kết quả chuyến đi thực tiễn của Phùng. Bức hình Chiếc thuyền ngoài xa được đưa vào bộ lịch phong cảnh biển và được đánh giá rất cao:

Những Bức hình tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm… Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, Bức hình chụp của tôi vẫn còn đấy đó được treo ở nhiều nơi, nhất là trong những gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, lúc nào tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi Bức hình, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đêm đông…

Với Phùng, hoàn toàn có thể coi đây là một chuyến đi có ý nghĩa sâu sắc phát hiện và thức tỉnh: chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, ẩn hiện trong sương mù, còn thực sự cuộc đời thì lại trần trụi và ở ngay trước mắt. Qua đó, chúng ta thấy chân lí cuộc đời có những lúc, có nơi không phải là chân lí nghệ thuật. Điều đó thể hiện ở chi tiết mỗi khi Phùng nhìn ngắm và thưởng thức vẻ đẹp của Bức hình, anh đều cảm thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi Bức hình.

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với những nghệ sĩ chân chính. Từ tình huống truyện có ý nghĩa sâu sắc khám phá, phát hiện về thực sự đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Theo ông, bổn phận của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra thực chất của cuộc đời. nét đẹp, cái Thiện trước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần phải có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng thực chất của nó.

Bài văn mẫu 4

Một trong những cái tên nổi tiếng của làng văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đúng là Nguyễn Minh Châu. Ông được coi là người “mở đường tinh anh và tài năng nhất”. Trước năm 1975, ông là một cây bút sử thi lãng mạn, viết nhiều về đề tài người lính. Tuy nhiên, sau năm 1980, sáng tác của ông đi sâu vào cảm hứng đời tư thế sự với vấn đề đạo đức, và triết lý chân thực. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong thái ấy là ‘Chiếc thuyền ngoài xa’.

Truyện ngắn được phát hành năm 1983, đến năm 1987 được in trong tập truyện ngắn cùng tên. Năm 1983 là thời kỳ độc lập của giang sơn ta. Cuộc sống thời bình với muôn mặt của đời sống, đề ra nhu cầu nhận thức lại về hiện thực và cuộc sống con người. Là một tác phẩm đáp ứng được nhu cầu ấy, ‘Chiếc thuyền ngoài xa’ trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu và tiêu biểu cho cảm hứng đời tư thế sự, Xu thế chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Truyện ngắn được chia thành ba phần. Phần một: từ đầu cho tới “lưới vó biến mất”. Ở phần này, tác giả đi sâu vào kể và phân tích hai phát hiện của nhân vật Phùng. Phần hai: tiếp theo đến “giữa phá”. mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài được kể tại đây. Phần ba còn sót lại. Tác giả nói về Bức hình được chọn vào bộ lịch năm ấy.

Trước tiên, truyện ngắn này có một tình huống truyện hết sức độc đáo. Ai cũng biết, tình huống là vấn đề then chốt đối với truyện ngắn. Nhà văn tìm được tình huống độc đáo sẽ làm bạn đọc theo mẩu chuyện. Tình huống đúng là tình thế xảy ra mẩu chuyện, khi nhân vật ở trong tình thế ấy sẽ bộc lộ rõ nhất thực chất, tính cách, phẩm chất của con người. Tình thế cũng hoàn toàn có thể là bước ngoặt làm thay đổi số phận, nhận thức hoặc có khi bộc lộ ra những cốt lõi sâu thẳm tiềm tàng trong truyện. Tình huống truyện của ‘Chiếc thuyền ngoài xa’ là tình huống nhận thức. Đây là một tình huống bất ngờ và đầy nghịch lý. Tình huống của truyện được thể hiện qua hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Tình huống đã giúp Phùng nhận thấy được nhiều điều về cuộc sống, con người và nghệ thuật. Cuộc đời vốn chứa nhiều xích míc, bất ngờ và đầy nghịch lý. Cần đến gần cuộc sống để khám phá sự thực bên trong và chiều sâu thực chất. cần phải có cái nhìn đa diện nhiều chiều để nắm vững bên trong số phận và tâm hồn con người. Nghệ thuật phải luôn gắn liền với cuộc sống thì mới có ý nghĩa sâu sắc.

Đi vào phần một của truyện là một cảnh sắc thiên nhiên đẹp thơ mộng. Phùng đã chụp được một “cảnh đất trời cho”: một chiếc thuyền lòe nhòe trong sương sớm với ánh mặt trời ban mai hồng hồng. Một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ. Đứng trước cảnh đẹp ấy, người nghệ sĩ thấy tim mình như có gì đó “bóp thắt vào”. Người nghệ sĩ cảm thấy tràn ngập niềm hạnh phúc, anh thấy được cảm xúc trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân- thiện -mĩ của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình được thanh lọc trở thành trong trẻo và thanh khiết. trải qua cảm xúc của nhân vật Phùng, tác giả đưa ra quan niệm về nét đẹp. nét đẹp phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái chân-thiện-mĩ, nét đẹp là đạo đức. Nhưng để hoàn thiện cho quan niệm về nghệ thuật của tôi, Nguyễn Minh Châu đã để nhân vật của tôi chứng kiến mẩu chuyện về cuộc đời của người đàn bà hàng chài. Đó là một con người hiện thân cho sự lam lũ đói khổ. Từ trong chiếc thuyền đẹp như mơ kia bước ra một cặp vợ anh xã. Người vợ “trạc ngoài 40”, “mặt rỗ”, “thân hình cao lớn thô kệch”, “lưng áo bạc phếch”, “khuôn mặt lộ rõ sự mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới”. Người đàn ông “có tấm lưng rộng”, khuôn mặt “độc, dữ”. Cả hai người đều là hiện thân của sự nhọc nhằn, nghèo khó của người dân hàng chài. Điểm đánh để ý đúng là cảnh bạo hành của hai con người này. Người anh xã thì đánh đập người vợ dã man, người vợ thì cam chịu trận đòn. Một cảnh tượng nghiệt ngã đối lập với cái cảnh đẹp như ngư phủ của con thuyền. Chính từ cảnh tượng tàn bạo ấy, tác giả đã hoàn toàn có thể gửi gắm thông điệp của tôi. Đó là cuộc sống có nhiều nghịch lý xích míc, nếu chỉ quan sát phía bên ngoài hoặc ở xa thì không thể phát hiện được thực sự bên trong nó. nét đẹp của nghệ thuật qua ống kính của người nghệ sĩ vẫn chưa thể được sức mạnh để làm nên đạo đức con người trong cuộc sống.

Nếu truyện ngắn chỉ dừng lại ở đây chắc chắn sẽ không đủ sức hút hoàn toàn có thể để lại dư âm trong lòng người đọc. Chính vì thế mà những tâm sự của người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện được viết ra. Sau khi chứng kiến cảnh bạo hành dã man bên chiếc xe tăng hỏng, Phùng đã nói với chánh án Đẩu từng là chiến hữu của anh để nhờ giúp đỡ. Người đàn bà hàng chài đã được chánh án Đẩu mời đến để khuyên chị li hôn với anh xã. Nhưng rồi những lời tâm sự của chị đã khiến không chỉ là hai chàng trai mà cả người đọc cũng phải ngỡ ngàng. Vẻ đẹp tâm hồn ẩn sâu bởi cái vẻ ngoài xấu xí của người phụ nữ ấy đã khiến chánh án Đẩu và nhân vật Phùng nhận thấy được nhiều điều. Mặc dù bị đánh đập dã man “ba ngày một trận nặng, năm ngày một trận nhẹ” nhưng người phụ nữ vẫn quyết không bỏ anh xã. Vì chị thương con, muốn đàn con được ăn no. Vì thương anh xã vất vả mà không giúp gì được nên chịu đòn mong hoàn toàn có thể san sẻ được với anh xã. Rồi chị tự nhận lỗi về phần mình, chị biết ơn anh xã mình. Chị chắt chiu những hạnh phúc nhỏ nhoi “trên thuyền cũng có thể có những lúc sống vui vẻ hạnh phúc”. Vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài đã đem lại cho người đọc một thông điệp, một triết lý. Đó là phải nhìn mọi việc một cách toàn diện. Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống thì cũng phải gắn liền với cuộc sống.

Kết thúc câu truyện, tác giả nhắc lại về Bức hình chụp của nghệ sĩ Phùng nhằm nhấn mạnh sức tác động của nó. mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài đã đi sâu vào tiềm thức của Phùng như một trải nghiệm mà mỗi khi nhìn vào Bức hình anh lại nhớ đến nó.

Với cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, mới lạ, mang ý nghĩa sâu sắc khám phá, phát hiện về cuộc đời, và cách trao ngòi bút cho nhân vật kể chuyện( nhân vật Phùng), “Chiếc thuyền ngoài xa” đã để lại ấn tượng sâu đậm. Thành công của Nguyễn Minh Châu đã đem lại cho người đọc một tác phẩm đầy tính triết lý và chiêm nghiệm về cuộc đời, con người và cả nghệ thuật. Những triết lý luôn đúng với mọi thời đại.

Bài văn mẫu 5

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) quê tỉnh TP. Nghệ An. Bắt đầu viết văn từ năm 1960 Nguyễn Minh Châu đã có những đóng góp đáng kể cho văn học kháng chiến chống Mĩ. Sau 1975, đặc biệt từ 1980 của thế kỉ XX, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải là hai cây bút tiên phong trong trào lưu đổi mới văn học. Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm xuất sắc của ông trong giai đoạn này.

Trước 1975, những sáng tác của giai đoạn này mang cảm hứng sử thi với giọng điệu ngợi ca trang trọng. Nhân vật trung tâm là những người anh hùng, những người lính. Ngôn ngữ trong trang viết của Nguyễn Minh Châu đậm chất trữ tình, lãng mạn

Từ sau 1975, từ cảm hứng sử thi, Nguyễn Minh Châu chuyển dần sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường. Nhân vật trung tâm là những con người trong cuộc mưu sinh trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Ngôn ngữ trong trang viết của Nguyễn Minh Châu trở về với đời thường, giàu tính chính luận, triết luận

Nguyễn Minh Châu viết Chiếc thuyền ngoài xa năm 1983, in lần đầu trong tập Bến quê. Sau được in riêng thành tập Chiếc thuyền ngoài xa năm 1988. Tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống ở góc độ đời tư – thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác sau 1975.

Tác phẩm chia làm hai phần khá rõ rệt. Phần đầu là hai phát hiện mới mẻ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh đang tìm kiếm nét đẹp ở trên đời. Phân hai là mẩu chuyện của người đàn bà làng chài tại toà án huyện.

mẩu chuyện xoay quanh những gì nhìn thấy và nhận thức của nghệ sĩ Phùng về thực sự ở đời qua cuộc sống của một gia đình làng chài. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung để chụp một Bức hình cho cuốn lịch năm sau theo yêu cầu của trưởng phòng. Tại đây, anh đã tìm thấy và chụp được một Bức hình về chiếc thuyền ẩn hiện ngoài xa như mình mong muốn đồng thời cũng chứng kiến cuộc sống cực kì khốc liệt và khổ đau của gia đình sống trên chiếc thuyền ấy. Phùng nhận thấy phía sau vẻ đẹp của nghệ thuật là nỗi đau khổ của con người và đằng sau nỗi đau khổ ấy, tình người vẫn mãi lặng lẽ nồng ấm.

Hai phát hiện mới mẻ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

Phát hiện thứ nhất: hình ảnh chiếc thuyền trên biển – “một cảnh đắt trời cho”

Sau bao ngày phục kích trên bờ biển ở nhiều thời điểm, sau cùng Phùng cũng bắt được một cảnh tượng tuyệt đẹp. Một “bức hoạ” diệu kì mà thiên nhiên, cuộc sống đã ban tặng cho con người. Sở dĩ hoàn toàn có thể đánh giá như vậy là vì nó là một “sản phẩm” quý hiếm của hoá công mà trong đời người nghệ sĩ không phải khi nào cũng chộp được.

Mặt khác, như cảm nhận của nghệ sĩ Phùng, cái cảnh tượng ấy giống như “một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Toàn bộ khung cảnh “Từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Đó khoảnh khắc hiếm có và hiếm gặp ở trên đời. Chỉ khoảnh khắc đó, đất trời mới quy tụ đủ những yếu tố để làm nên một Bức hình nghệ thuật tuyệt vời. Thiếu một yếu tố nào là coi như hỏng cả bức tranh. Đời người nghệ sĩ, hiếm khi bắt được khoảnh khắc trời cho ấy.

Đứng trước một sản phẩm nghệ thuật tuyệt tác của hoá công, người nghệ sĩ trở thành thực sự “bồn chồn” và “trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Phải chăng, đó là hạnh phúc, là niềm xúc động mãnh liệt, có cả sự vội vã, niềm lo lắng nó sẽ biến mất và phải bắt chộp ngay. Tâm hồn người nghệ sĩ rung động thật sự và một cảm xúc thẩm mĩ cao thượng đang bùng nổ trong lòng anh.

Người nghệ sĩ còn “khám phá cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn mình”. Trong lúc đó, anh cho rằng: “bản thân nét đẹp đúng là đạo đức”

Nói cách khác, trong một khoảnh khắc tuyệt đẹp của cuộc sống, nghệ sĩ Phùng đã cảm nhận được cái Chân, cái Thiện của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở thành thật trong trẻo, tinh khôi cực kì. Điều này có tức là nét đẹp đã có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Với tác dụng ấy, nét đẹp chẳng phải là “đạo đức” hay sao!

Văn chương thực sự hoàn toàn có thể thanh lọc tâm hồn tốt hơn bất kì một sự thanh lọc nào khác. Nói như Thạch Lam: “Văn chương không phải là cách đem lại cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao mà đắc lực mà chúng ta vừa có để tố cáo, thay đổi toàn cầu giả dối, tàn ác vừa làm cho lòng người thêm trong sáng và phong phú hơn”

Hay trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân cũng đã tâm niệm rằng nghệ thuật hoàn toàn có thể cải hóa và làm sạch mọi tội lỗi của con người qua sự thức tỉnh của Viên quản ngục trước nét chữ của Huấn Cao. Nó có sức mạnh hoàn lương đối với những kẻ lầm lỗi và đưa họ về với đạo đức cao thượng.

Tuy nhiên, ngay trong lúc tâm hồn đang bay bổng trong những cảm xúc thẩm mĩ, đang tận hưởng cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn thì người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã ngạc nhiên phát hiện ra một thực sự trần trụi sau vẻ đẹp ấy khi người phụ nữ từ trên thuyền bước ra.

Phát hiện thứ hai: hiện thực cuộc sống khắc nghiệt bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là:

Bước ra từ con thuyền là một người đàn bà xấu xí, khuôn mặt mệt mỏi, tái ngắt, thân hình cao lớn, tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới rưới. Hình ảnh ấy khiến cho Phùng không khỏi ngạc nhiên. nét đẹp của cảnh vật Hình như bị tàn phá bởi cái trần trụi đến thô kệch của cuộc sống. Người đàn bà đúng là hiện thân của sự nghèo khổ, vất vả và cam chịu đến cùng cực.

Tiếp đến là hình ảnh một gã đàn ông to lớn với tấm lưng rộng và cong như một chiếc thuyền. Mái tóc của gã hình tổ quạ, rối bời bởi gió biển. Hai chân đi chữ bát, bước từng bước chắc chắn. Khuôn mặt dữ tợn với hàng lông mày cháy nắng, hai con mắt độc dữ. Gã xuất hiện và phá tan cái dịu dàng, đầy mơ mộng mà vừa mới đây thôi làm cho Phùng cực kì xúc động. Cuộc sống nghèo nàn, lam lũ đã hằn lên dáng vẻ khắc khổ của người đàn ông.

Sau đó là một cảnh tượng tàn nhẫn mà có lẽ Phùng cũng không muốn phải chứng kiến. Gã anh xã đã lôi vợ lên bờ và đánh đập người vợ một cách thô bạo. Nhưng chị vẫn chịu đựng “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn”… Đứa con vì thương mẹ đã đánh lại cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát,…

Chứng kiến cảnh tượng đó, nghệ sỹ Phùng ngạc nhiên đến thẫn thờ. “toàn bộ mọi việc xảy đến khiến tôi ngạc nhiên đến mức trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”. Người nghệ sỹ như “chết lặng”, không tin vào những gì đang ra mắt trước mắt. “Chết lặng” là chính vì nét đẹp vừa mới bị cướp mất đi trong tâm hồn anh. Anh cũng “chết lặng” bởi hành động khó hiểu của người đàn bà kia.

Nghệ sỹ Phùng không thể ngờ rằng đằng sau cái vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hoá kia lại có cái ác, cái xấu đến không thể tin được. Vừa mới lúc trước, anh còn cảm thấy “bản thân nét đẹp đúng là đạo đức”. Anh vừa thấy “chân lý của sự toàn thiện”. Thế mà, chỉ ngay sau đó chẳng còn cái gì là “đạo đức”, là cái “toàn thiện” của cuộc đời nữa. Anh nhận thấy, cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa nhiều nghịch lí, luôn tồn tại những mặt đối lập, những xích míc: đẹp – xấu; thiện – ác,…

Giả sử có ai đó muốn can thiệp vào tác phẩm của nhà văn bằng phương pháp đảo vị trí hai phát hiện này. Tức là để cho người nghệ sĩ Phùng chứng kiến thảm kịch của gia đình làng chài hôm trước, rồi sáng hôm sau mới phát hiện vẻ đẹp của cảnh biển mờ sương thì nghệ sĩ Phùng liệu có còn nhận lấy được nét đẹp hay không. Tất nhiên là không thể. Nhà văn đã có dụng ý để khi cảnh tượng “trời cho” hiện ra trước như là vỏ bọc phía bên ngoài hòng che dấu cái thực chất thực của đời sống thực ở bên trong. Người nghệ sĩ phải nhìn thấy nét đẹp trước để ca tụng nó, tôn thờ nó. Sau đó mới nhận thấy thực chất thực của nó. Nhà văn khẳng định: đừng nhầm lẫn giữa hiện tượng với thực chất, giữa hình thức phía bên ngoài và nội dung bên trong. Không phải lúc nào chúng cũng thống nhất. Đừng vội đánh giá con người, sự vật ở dáng vẻ phía bên ngoài mà phải đi sau và phát hiện ra thực chất thực sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng.

mẩu chuyện cảm động của người đàn bà ở toà án huyện

Người đàn bà đến toà án theo lời mời của chánh án Đẩu- người có ý định khuyên bảo. Thậm chí đề nghị người đàn bà nghèo khổ ấy từ bỏ lão anh xã vũ phu. Đó là chị làm theo lời đề nghị của chánh án Đẩu, người bảo vệ công lí, chứ thực tình chị cũng không hề muốn đến. Chị đến để mong muốn rằng mọi người sẽ không làm phiền đến chị nữa.

Mọi người muốn chị bỏ người anh xã tàn ác kia. Nhưng đó là điều chị không hề muốn. Chị đau đớn đánh đổi bằng mọi giá để không phải bỏ lão anh xã vũ phu: “Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Khị đã kể về mẩu chuyện của cuộc đời mình trong nước mắt. Chị bị anh xã thường xuyên hành hạ, đánh đập khốn khổ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Thế nhưng, chị cam tâm chấp thuận điều đó trong cuộc sống của tôi. Chị từ chối cả lời đề nghị và sự giúp đỡ của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng một cách khẩn thiết.

Chị giải thích bằng: “những chú đâu có phải là người làm ăn… cho nên những chú đâu có hiểu được cái việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”. Rồi chị đưa ra những lí do để minh chứng cho quyết định của tôi. Lúc này, người đàn bà đã mất hết cái vẻ ngoài khúm núm, sợ sệt. Điệu bộ và ngôn ngữ cũng khác hẳn lúc mới bước vào. Chị thể hiện một sự sắc sảo đến nỗi chánh án Đẩu và nghệ sĩ cũng phải ngạc nhiên.

Thứ nhất: gã anh xã ấy là chỗ dựa quan trọng trong cuộc đời của những người đàn bà hàng chài như chị. Nhất là những khi biển động, phong ba, không tồn tại người đàn ông, phận đàn bà như chị chẳng biết làm thế nào.

Thứ hai: Chị cần hắn vì còn phải nuôi những đứa con nhỏ. Chị đâu hoàn toàn có thể chỉ sống cho riêng mình. Chị còn phải sống vì chúng nữa.

Thứ ba: Trên thuyền cũng có thể có những lúc vợ anh xã sống hoà thuận, vui vẻ. Sự tức giận và tàn bạo của gã anh xã chỉ là để giải quyết những ức chế bực bội bởi cảnh sống nghèo khó, túng thiếu mà thôi.

Nghe tiếp đây, chánh án Đẩu – “vị bao công của cái phố huyện vùng biển”“một chiếc gì mới vừa vỡ ra”. Lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ.

thực sự, người đàn ông ấy vốn là “một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm”. Trước đây, anh không lúc nào đánh đập vợ. Chỉ vì “nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính”, vì quá nhiều con mà anh ta trở thành độc dữ. Trong con mắt của người đàn bà, người anh xã vũ phu kia chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Một phần nguyên nhan gây ra điều đó là có lỗi của chị như chị đã giãi bày: bởi sinh nhiều con quá. Đó là thái độ thấu hiểu, cảm thông, sẻ chia đáng trân trọng của người đàn bà mà những người đứng phía bên ngoài như chánh án Đẩu hay nghệ sĩ Phùng sẽ không thể thấu hiểu được.

Nhận thức mới của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng qua mẩu chuyện cuộc đời của người đàn bà:

Cuộc đời của người đàn bà ấy không hề giản đơn. Trong hoàn cảnh này, cách hành xử của chị ta Hình như là không thể khác. Có lẽ giải pháp “bỏ anh xã” mà Đẩu đang áp dụng cho trường hợp người đàn bà này là không ổn.

cũng tương tự Đẩu, nghệ sĩ Phùng đã lặng im sau mẩu chuyện của người đàn bà. Có lẽ người nghệ sĩ cũng đang trầm ngâm, suy nghĩ sau những gì vừa ra mắt. mẩu chuyện đó đã giúp Phùng nắm vững hơn về những nhân vật.

Phùng hiểu ra, người đàn bà không hề cam chịu một cách vô lí. Chị không hề nông nổi một cách ngờ nghệch như Phùng đã nghĩ lúc đầu. Thực ra, chị ta là người rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời. Người phụ nữ này có một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ nhưng biết chắt chiu hạnh phúc đời thường. Chị sống cam chịu, kín đáo luôn sẵn lòng hi sinh. Một người phụ nữ xấu xí, thô kệch nhưng tâm hồn đẹp đẽ. Ở chị thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu đức hi sinh và lòng vị tha

Phùng cũng nhận thấy ở người bạn của tôi – chánh án Đẩu. Chánh án Đẩu là người có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ công lí nhưng anh vẫn chưa thực sự đi sâu vào đời sống nhân dân. Lòng tốt là đáng quý nhưng vẫn chưa đủ. Luật pháp là thiết yếu nhưng cần phải đi vào đời sống. Cả lòng tốt và luật pháp đều phải được đặt vào những hoàn cảnh cụ thể, không thể áp dụng chung cho mọi đối tượng

Phùng cũng đã thức tỉnh khi nhìn nhận cuộc đời và con người. Cuộc đời không đơn giản như Phùng thường trông thấy. Cuộc đời không phải lúc nào cũng đẹp trong như nghệ thuật. Và trước biển hiện thô kệch của cuộc đời, đừng vội vô vọng hay miệt thị nó.

Từ đó, tác phẩm muốn gửi đến người đọc một thông điệp sâu sắc. Đừng nhìn nhận cuộc đời và con người dễ dãi, xuôi chiều. Cần phải nhìn mọi sự việc, hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể của nó và trong quan hệ với nhiều yếu tố khác nữa. Không thể nhìn đời một cách đơn giản mà cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều.

Mỗi khi nhìn thấy Bức hình, tác giả đều thấy: “hiện lên cái màu hồng của ánh sương mai”. Nhìn lâu hơn lúc nào cũng thấy “người đàn bà ấy đang bước ra khỏi Bức hình…”. Cái màu hồng của ánh sương mai là chất thơ của cuộc sống, là vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời, là hình tượng của nghệ thuật. Còn hình ảnh “người đàn bà ấy bước ra khỏi bức tranh” là hiện thân của những lam lũ, khốn khó của đời thường. Nó là thực sự cuộc đời đằng sau bức tranh. Nghệ thuật chân chính không lúc nào rời xa cuộc đời. Nghệ thuật là chính cuộc đời và phải luôn luôn vì cuộc đời

Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng của bức tranh thiên nhiên về biển và cũng là hình tượng về cuộc sống sinh hoạt của người dân hàng chài. Nó còn là một hình ảnh gợi cảm, có sức ám ảnh về sự bấp bênh, dập dềnh của những thân phận, những cuộc đời trôi nổi trên sông nước

Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng cho mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Cái hồn của bức tranh nghệ thuật ấy đúng là vẻ đẹp rất đỗi bình dị của những con người lam lũ, vất vả trong cuộc sống thường nhật.

Chiếc thuyền ngoài xa trước hết là hình tượng của nghệ thuật, đó là thứ nghệ thuật đạt tới sự toàn mĩ và thánh thiện đến mức mà ngắm nhìn nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồn mình được thanh lọc.

Độc đáo trong cách xây dựng cốt truyện: tức là tạo được tình huống truyện mang ý nghĩa sâu sắc khám phá và phát hiện về đời sống.

Hình thức kể chuyện: Nhà văn đã nhập vai vào nhân vật Phùng để kể. Nhờ vậy mà mẩu chuyện trở thành gần gũi, khách quan, chân thực hơn và cũng có thể có sức thuyết phục hơn, hoàn toàn có thể nhìn cuộc đời và con người ở những góc độ không giống nhau, cự li không giống nhau.

Ngôn ngữ giản dị đằm thắm mà đầy dư vị. Giọng điệu chiêm nghiệm, suy tư thích hợp với nhận thức.

Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu thể hiện sâu sắc những đổi mới cơ bản của văn học Việt Nam sau 1975. Văn học đã trở về với những vấn đề của đời sống nhân sinh, quan tâm nhiều hơn thế nữa đến những đề tài đạo đức – thế sự (như mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn này). Khác với giai đoạn trước- chủ yếu khắc hoạ con người, ở giai đoạn này, văn học đi sâu vào khám phá toàn cầu nội tâm phức tạp và đầy xích míc của con người trong cuộc sống thường nhật (đời sống tâm hồn của người đàn bà vùng biển).

Bài văn mẫu 6

Nghệ thuật và hiện thực luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, một tác phẩm chân chính muốn toả sáng phải có sự hòa quyện với vẻ đẹp của cuộc sống chân thực. Nhà văn Nam Cao từng nói: “Nghệ thuật không cần thiết phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật chỉ hoàn toàn có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”. Nghệ thuật là lĩnh vực của sự sáng tạo mới mẻ nhưng phải gắn với con người thì mới không thay đổi được giá trị chuẩn mực vốn có. Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu là một bức tranh hiện thực đầy màu sắc, ẩn sau đó chứa đựng cả mẩu chuyện về số phận, cuộc đời con người. Tác giả đã nhìn cuộc sống bằng đôi mắt đa diện, nhiều chiều, phản ánh đúng thực chất thật sau vẻ đẹp hoà nhoáng phía bên ngoài của hiện tượng.

Nguyễn Minh Châu quê ở xã Quỳnh Hải (nay là Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh TP. Nghệ An. Năm hai mươi tuổi ông gia nhập quân đội cho tới năm 1962 thì chuyển sang con đường sáng tác văn học. Trước thập kỷ 80 ngòi bút của ông thiên về tính sử thi hào hùng, lãng mạn với những tác phẩm tiêu biểu: Cửa sông (tiểu thuyết, 1967), Những vùng trời không giống nhau (tập truyện ngắn, 1970), Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972),… cho tới những năm 80 đổ về sau, Nguyễn Minh Châu triệu tập nghiên cứu về cuộc sống nhân dân, những tác phẩm của ông đều lấy cảm hứng từ những vấn đề đạo đức và triết lý nhân sinh, đặc sắc với những truyện ngắn: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Cỏ lau (1989),… Chiếc thuyền ngoài xa được ông sáng tác năm 1987, kể về chuyến đi công tác của người thợ chụp ảnh và những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nét đẹp và cuộc đời. hoàn toàn có thể nói Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút xuất sắc, là nhà “mở đường tinh anh” cho nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm văn học có tình huống truyện hết sức độc đáo, người đọc ngay từ những câu văn trước tiên. hoàn toàn có thể nói tình huống truyện đúng là chiếc chìa khoá để vận hành cả cốt truyện, là điểm tựa để người đọc khám phá trọn vẹn một tác phẩm văn xuôi. Tình huống truyện đúng là những sự kiện éo le, bất ngờ, mới lạ,… Là điểm nhấn then chốt hấp dẫn người đọc, nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng tình huống truyện là “tình thế của mẩu chuyện, là khoảnh khắc mà Trong số đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”, sự kiện nổi trội ấy hoàn toàn có thể là bước ngoặt thay đổi nhận thức,số phận của cả một đời người. Tình huống truyện cũng là khoảnh khắc mà ở đó nhận vật bộc lộ rõ tính cách, thực chất của tôi từ đó chủ đề tư tưởng của truyện được thắp sáng. Bằng tài năng và phong thái nghệ thuật của tôi, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng tình huống truyện nhận thức đầy bất ngờ và chứa đựng những nghịch lý cuộc đời, đó đúng là hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng.

Vào một buổi sáng tinh mơ, trời đầy sương mù, những hạt mưa nhỏ lác đác rơi, Phùng vẫn tiếp tục công việc “phục kích” để tìm cho ra một Bức hình chiếc thuyền đánh cá thu lưới khi bình minh. Người nghệ sĩ đã bỏ ra nhiều công sức nhưng vẫn chưa tồn tại một Bức hình nào thật đặc sắc, mới lạ để in trong lịch tết năm sau. Trong lúc đang lúi húi thay phim, lúc ngẩng lên anh đã chứng kiến một chuyện hơi lạ, một cảnh sắc đẹp ngỡ ngàng làm cho trái tim người nghệ sĩ Hình như rung động mãnh liệt đó là “một chiếc thuyền lưới vó” đang trèo thẳng đến trước mặt anh. Cả một cuộc đời làm nghệ thuật có lẽ vẫn chưa lúc nào Phùng được trông thấy một cảnh “đắt” trời cho như thế, một cảnh sắc được tác giả mô tả “đẹp như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”. Mũi thuyền ẩn hiện, loè nhoè trong bầu sương mù trắng xoá có pha “ đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào”, trên thuyền là những bóng người ngồi im phăng phắc như tượng sáp. toàn bộ khung cảnh ấy đang tiến đến ngày một gần như “cánh của con dơi”, bức tranh hài hoà từ đường nét đến ánh sáng và mang một vẻ đẹp “thực đơn giản và toàn bích”. Là một người nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm, đứng trước cảnh sắc tuyệt mỹ ấy Phùng bỗng thấy bồn chồn, trong trái tim anh “như có cái gì bóp thắt lại”. Hình như cảm xúc hạnh phúc đang dâng trào mãnh liệt, trong khoảnh khắc trong ngần ấy người nghệ sĩ đã nhận được ra cái chân – thiện – mỹ của cuộc đời ngay trước mắt mình. nét đẹp phải chăng là đạo đức ? Chẳng cần lựa chọn hay dịch chuyển gì nữa, Phùng đưa mắt ảnh bấm “liên thanh” như sợ cảnh sắc tuyệt mỹ kia sẽ tan biến trong phút giây.

Nghịch lý cuộc đời bắt đầu từ đây, khi chiếc thuyền tiến gần vào bờ, hình ảnh một cặp vợ anh xã đang rời thuyền, họ lội qua một quãng bờ phá, nước ngập tới tận đầu gối. trong tích tắc tiếng người đàn ông cất lên văng vẳng quát tháo những đứa con đang ở trên thuyền. Hình ảnh cặp vợ anh xã lam lũ bước ra từ chiếc thuyền đẹp như thiên đường, người anh xã cao to, thô lỗ, vẻ mặt dữ tợn, còn người đàn bà khuôn mặt thô kệch toát lên đầy sự mệt mỏi. Chỉ bằng một vài câu văn mô tả ngoại hình tác giả phần nào đã khiến cho người đọc vỡ mộng, đằng sau vẻ hào nhoáng kia của chiếc thuyền thì con người lại hiện ra chân thực, chẳng hề mang vẻ đẹp hoa mỹ nào. Nhưng nghiệt ngã hơn đúng là cảnh bạo hành vợ của gã đàn ông thô bạo kia, hắn rút ra “một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa”, chẳng ai nói với nhau lời nào, hắn trút cơn giận như lửa cháy dùng hết sức lực quật tới tất vào lưng người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, răng nghiến ken két. Mỗi một nhát quất xuống hắn lại cất lên những câu chửi nguyền rủa bằng cái giọng “rên rỉ, đau đớn”: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!” Người đàn bà vẫn ngồi im “cam chịu, nhẫn nhục” không một lời khẩn xin hay oán trách, chẳng chống trả cũng không hề chạy trốn. Sự việc xảy đến quá nhanh, quá bất ngờ đến nỗi nghệ sĩ Phùng không thể tin vào chuyện gì đang ra mắt trước mắt. Anh bàng hoàng, sửng sốt trong mấy phút đầu chỉ biết “đứng há mồm ra mà nhìn”. Thằng Phác từ đâu lao đến nhanh hơn cả mũi tên, giật lấy chiếc dây lưng quất vào “tấm ngực trần vạm vỡ cháy nắng” của cha nó. Cảnh tượng người anh xã đánh đập vợ dã man, người vợ cam chịu, đứa con đánh lại cha trái ngược hoàn toàn với vẻ đẹp của con thuyền ngư phủ. Tác giả đã vẽ nên bức tranh hiện thực cuộc sống ẩn sau vẻ đẹp hào nhoáng bằng một hiện thực nghiệt ngã, nếu chỉ nhìn sự vật ở phía bên ngoài chúng ta sẽ không thể nhìn thấu hết thực chất của nó, không thể đánh giá một cách toàn diện hiện tượng. Vẻ đẹp của nghệ thuật vẫn chưa đủ sức mạnh để làm nên phẩm chất đạo đức, nhân cách của một con người.

“Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan” hiện thực không đơn giản, một chiều mà luôn tồn tại với nhiều mảng màu đối lập chẳng thể giải đáp. Nghịch lý không dừng lại ở đó mà tiếp tục được tác giả đi sâu vào khai thác trong nhân vật người đàn bà hàng chài. Người phụ nữ đã trạc ngoài bốn mươi, dáng người đặc trưng của miền biển, cao lớn với những “đường nét thô kệch”. Vẻ ngoài xấu xí, mặt chằng chịt rỗ sau một bận lên đậu mùa, sắc mặt tái bệch đi sau một đêm dài thức trắng. Xuất thân trong một gia đình khá giả, nhưng vì xấu nên không ai lấy. Lúc đầu khi được chánh án Đẩu mời lên toà án, người đàn bà lúng túng, sợ sệt, tìm tới một chỗ để ngồi. Khi được chánh án khuyên bỏ anh xã, bà ta lo lắng, sợ hãi cực kì khẩn xin toà: “Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Thật là kỳ lạ, một gã anh xã vũ phu suốt ngày đánh đập “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” thì có gì đáng để bà ta phải lưu luyến mà không bỏ quách đi. Một người anh xã một khi dám xuống tay đánh vợ và chửi rủa như thế, thì còn thiết tha hạnh phúc gì nữa, vậy mà người đàn bà nhất định không chịu bỏ đi. Nếu chỉ nhìn vào những gì đang thấy trước mắt, thì người phụ nữ này quả thật là cũng đáng trách, trách vì đã để bản thân mình chịu nỗi đau thân xác lẫn tinh thần, trách vì sự kém cỏi hèn nhát của bản thân.

Thế nhưng không, cuộc đời vốn dĩ chẳng phô bày ra trước mắt ta những uẩn khúc nghiệt ngã. Đằng sau vẻ nhút nhát của người đàn bà làng chài là cả một sự hy sinh cao quý vì đàn con, vì gia đình yên ấm, bà thấu hiểu được nỗi khổ của người anh xã. Qua lời kể của bà, người anh xã khi còn trẻ tuy cục tính nhưng hiền lành, bà mang ơn ông vì đã cứu lấy danh dự mình, vẫn cưới dù biết bà có mang với người đàn ông khác. Hoàn cảnh đã nghèo khó, lại thêm đông con, gánh nặng cơm áo như đè nặng hết lên vai người anh xã. Những khi trời đổ giông bão cả nhà chỉ ăn “cây xương rồng luộc chấm muối”, người đàn bà chép miệng như đang “nhìn suốt cả đời mình”, bà nhận hết lỗi về phần mình “giá tôi đẻ ít đi”. Quả là một người phụ nữ đáng trân trọng dù bản thân có chịu đựng bao khổ nhục cũng vẫn chưa từng oán thán, bà luôn nhìn thấy nỗi khổ của người khác để thấu hiểu, bao dung cho lỗi lầm của họ. Quanh năm lênh đênh trên biển – nguồn sống duy nhất của cả gia đình từng ấy miệng ăn, người đàn bà nhẫn nhục vì thương con, chúng còn thơ dại nếu không tồn tại bàn tay chăm sóc của người mẹ sẽ ra sao? Liệu người đàn ông khô khan, thô bạo kia có dạy dỗ, quan tâm, bảo ban được chúng? Phụ nữ làng chài cần phải có người đàn ông chèo lái con thuyền mỗi khi trời đổ phong ba, họ sức yếu vai mềm chẳng thể một mình chống đỡ lại với bão táp ngoài biển khơi, “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho tới khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ” cho nên họ “phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi duy nhất của người phụ nữ là khi nhìn đàn con “chúng nó được ăn no”, trong cả khi vui sướng hay hạnh phúc thì cũng là vì nghĩ cho con vẫn chưa một lần nào nghĩ cho bản thân mình. Vẻ mặt người đàn bà bừng sáng lên như một nụ cười khi nghĩ đến những lúc vợ anh xã con cái sống vui vẻ, hòa thuận. Hình như tình thương con cũng như nỗi đau, sự thấu hiểu về những thăng trầm của lẽ đời “mụ” chẳng lúc nào bộc lộ ra ngoài mà giấu kín trong trái tim mình. Vẻ đẹp của đàn bà hàng chài đã gợi cho ta bao suy nghĩ về cuộc đời, không thể nhìn sự việc một cách phiến diện, một chiều mà phải đặt nó trong một khía cạnh toàn diện để đánh giá, suy xét. Nghệ thuật phải là một tấm gương phản chiếu hiện thực đấy mới là nghệ thuật chân chính.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo, hình ảnh biểu trưng “chiếc thuyền ngoài xa” là nghệ thuật ẩn dụ cho kiếp người đơn độc, lênh đênh trên biển lớn cuộc đời. Nghệ thuật tự sự độc đáo, người trần thuật là Phùng một nghệ sĩ dày dặn kinh nghiệm, từng trải trên chiến trường. Ngôn ngữ truyện chân thực, giàu hình ảnh sáng tạo, hấp dẫn người đọc.

Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm văn học xuất sắc của Nguyễn Minh Châu, để lại cho chúng ta những bài học quý giá về triết lý nhân sinh của cuộc đời, biết đồng cảm, sẻ chia với những mảnh đời khốn khó. Từ tình huống truyện có ý nghĩa sâu sắc như một nút thắt để người đọc khám phá về thực sự cuộc đời, từ những thay đổi trong nhận thức con người, tác giả đã chỉ rõ mối liên hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Nhà văn cũng như thư ký của thời đại, phải có trách nhiệm tái hiện cuộc sống trong ngòi bút nghệ thuật của tôi.

Bài văn mẫu 7

Nguyễn Minh Châu sinh vào năm 1930, tại Quỳnh Lưu, TP. Nghệ An, một vùng quê có truyền thống hiếu học lâu lăm. Ông là một nhà văn rất có trách nhiệm với cuộc đời, luôn khát khao đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu bên trong những con người. Những tác phẩm của ông thường nhẹ nhàng mà thấm đẫm những triết lý sâu sắc, đó cũng là nét nổi trội làm nên phong thái văn học của Nguyễn Minh Châu. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm thành công và gây nhiều ấn tượng trong lòng đọc giả của ông.

Tác phẩm được phát hành vào năm 1983, đó là khoảng thời gian sau ngày dân tộc thống nhất, cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi. Hai miền Năm Bắc sum họp, toàn quốc đoàn kết cùng nhau đứng lên dựng xây đời mới để có một cuộc sống đẹp đẽ hơn. Song, đây cũng là thời điểm mà những hậu quả do chiến tranh để lại vẫn còn đấy đó rất lớn, nhiều thử thách đề ra trong đời sống của nhân dân, đặc biệt là cái nghèo, cái đói.

Mở đầu tác phẩm là hình ảnh một người nghệ sĩ Phùng bắt gặp được cảnh “đắt trời cho” vào một buổi sớm mai. Từ xa xa, trong từng làn sương mờ ảo, huyền diệu, bóng một con thuyền thấp thoáng tiến vào bờ, trong khoảnh khắc ấy, ánh mặt trời bình minh mang màu hồng nhạt đang chiếu vào con thuyền tạo ra vẻ toàn bích. Trong con mắt của người nghệ sĩ khát khao đi tìm kiếm nét đẹp lúc ấy thật hạnh phúc khi được ngắm nhìn một vẻ đẹp “xưa nay vẫn chưa từng có”. Cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, hài hoà trong vẻ đẹp lao động của người ngư phủ, cả sắc màu, ánh sáng, đường nét đều hoàn mỹ. Trước bức tranh tuyệt đẹp ấy, người nghệ sĩ đã cực kì rung động, cực kì cảm xúc và vẫn không quên nhiệm vụ của tôi, bấm máy ảnh liên tục ghi lại khoảnh khắc ấy. Đây là một bức tranh đẹp mà tạo hóa đã ban tặng, những không phải lúc nào cũng hoàn toàn có thể bắt gặp được, một người nghệ sĩ như Phùng phải mải miết mà tìm kiếm, phải đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ, phải lao động nghiêm túc trên hành trình đi tìm nét đẹp ấy mới hoàn toàn có thể gặp gỡ và tạo ra sản phẩm đáng tự hào.

thú vui vẫn chưa được bao lâu thì Phùng lại đón nhận một thực sự sững sờ đằng sau Bức hình ấy. Trước mắt người nghệ sĩ xuất hiện một người đàn bà không mấy xinh đẹp, da mặt thì bị rỗ, khuôn mặt cúi xuống, bước từng bước đi trong vẻ cam chịu. Đi theo sau là một người đàn ông cao to, vẻ mặt tức giận, rất hùng hổ, mũi đỏ gay. Người đàn ông ấy dáng những trận đòn tới tấp bằng chiếc thắt lưng trên tay ông ta vào người đàn bà. Lúc ấy, người đàn bà kia vẫn không nói một lời, lẳng lặng chịu đòn roi. Phùng bàng hoàng, há hốc mồm nhìn trong ngạc nhiên, trái tim lúc ấy như ” chết lặng”. Phùng lúc này mới nhận thấy rằng hiện thực tàn nhẫn hơn ta tưởng, đằng sau nét đẹp mà mới mấy phút trước đây Phùng còn không ngớt lời ngợi khen là cả một mẩu chuyện thương tâm về bạo lực gia đình. Cuộc sống vốn chẳng hề hoàn mỹ như ai đó vẫn tưởng, trong cái tốt còn cả những cái xấu, đúng – sai chẳng thể rạch ròi. Bởi thế, đừng vội vã nhìn vẻ bề ngoài mà đánh giá, hãy đi sâu, hiểu kỹ để thấy được những mảng màu không giống nhau trong đời sống.

Không thể cầm lòng trước hành động tàn nhẫn và sai trái ấy, Phùng đã vội chạy tới cần ngăn. Bất bình trước cảnh bạo lực tàn nhẫn, mong muốn được giúp đỡ người đàn bà giải thoát khỏi cuộc sống như địa ngục, vì vậy dù đã hoàn thành xong nhiệm vụ được giao, Phùng vẫn quyết định ở lại để cùng Đẩu giúp đỡ người đàn bà.

Tại tòa án huyện, người đàn bà khốn khổ trạc vào tuổi bốn mươi kia xuất hiện trong vẻ lúng túng và sợ hãi. Chị ta ngồi nơi mép ghế, lạ lẫm với mọi thứ vì vốn người đàn bà ấy chỉ quen với cảnh sông nước, thuyền chài. Người đàn bà ấy lặng lẽ, vẻ mặt đầy bình yên như vẫn chưa hề có chuyện gì xảy ra trước đó, có lẽ, nêu không tồn tại cuộc gặp gỡ này, chẳng ai hoàn toàn có thể biết hết vẻ đẹp trong con người ấy.

Chị vốn là con của một gia đình có điều kiện ở phố, ngày xưa vì một trận đậu mùa mà để lại trên khuôn mặt chị những vết rỗ xấu xí. Từ khi lấy người đàn ông hàng chài, cuộc sống nghèo khổ cứ mãi đeo bám. Trên con thuyền chật chội của sông nước, hai vợ anh xã và chín mười người con bám víu lấy nhau trong khổ cực, túng quẫn. anh xã chị vốn là một người hiền lành ít nói nhưng cũng vì sự túng thiếu mà đâm ra cộc cằn, đổi nết. Khi nghe chánh án Đẩu khuyên chị bỏ người anh xã tàn nhẫn đi. Chị không hề chấp thuận. Điều nghịch lý là tại sao sống với một người đàn ông bạo lực như thế nhưng chị lại không chịu bỏ anh xã? Còn nguyên nhân gì sâu xa khác?

Khi nghe người đàn bà ấy nói về anh xã, về những lý giải thấu tình ta mới thấy hết được những nghĩ suy đầy đẹp đẽ nơi chị. Chị là người hiểu cuộc sống của tôi, hiểu lẽ đời và suy nghĩ đầy chín chắn, sâu sắc. Với chị, việc bỏ anh xã là điều không thể, bởi cuộc sống trên thuyền, ngày bình thường thì còn gắng được nhưng những ngày mưa gió, bão giông nào thể thiếu bàn tay người đàn ông chèo chống. Thứ hai, mình chị không thể nào đủ sức để nuôi chín mười đứa con thơ dại, cho chúng có ái ăn cái mặc. Chị hoàn toàn có thể thiếu anh xã nhưng con cái làm sao hoàn toàn có thể vắng đi sự chăm sóc, lắng lo của người cha. Và thứ ba, chị luôn nhớ đến những phút giây hạnh phúc bên gia đình nhỏ, quây quần bên bữa cơm, dù ít ỏi nhưng đó là những khoảnh khắc mà chị trân trọng, giữ gìn, nó xoa nhẹ hết tất thảy những khổ đau, xót xa mà chị phải gánh chịu. Người đàn bà tội nghiệp ấy đâu có nghĩ gì đến cho mình, chị chỉ việc thấy con hạnh phúc, ấm êm, chị chỉ việc những phút giây bình an giản đơn như thế.

Chị là người phụ nữ yêu con và cũng rất mực thương anh xã. Dù ai đó nói gì về anh xã chị thì chị vẫn thấy được những ưu thế nơi anh xã. Chị sẵn sàng bao dung và thứ tha cho lỗi lầm của người đàn ông ấy. Sâu thẳm nơi đáy lòng của người đàn bà ấy là tình thương con bao la, chị hy sinh cả bản thân mình để đánh đổi cho con một gia đình trọn vẹn, chị sợ những trận đòn roi tàn nhẫn từ bố sẽ làm vấy bẩn tâm hồn non nớt của những con nên chị đã cầu xin người anh xã mang mình lên bờ để đánh, gửi Phát về sống với ông ngoại. Chị là đại diện đẹp đẽ của những người phụ nữ Việt Nam, yêu thương, nhân hậu và bản lĩnh, dù nhỏ xíu, dù nghèo khổ, lam lũ những ánh lên những vẻ đẹp của tâm hồn đầy đáng quý, đáng được ngợi ca.

Sâu phiên xử ấy, Phùng đã vỡ lẽ ra hơn nhiều điều trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Đối với cuộc sống cần phải có cái nhìn đa chiều hơn, sâu sắc hơn. Đối với nghệ thuật muốn đạt đến sự chân chính phải phục vụ con người, phải gắn với hiện thực đời sống.

Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, lối kể chuyện đầy bất ngờ, hấp dẫn cùng hành văn chiêm nghiệm sâu sắc Nguyễn Minh Châu đã mang đến cho người thưởng thức những cảm xúc đầy mới mẻ mà ta vẫn chưa từng có được.

Bài văn mẫu 8

Nhà văn Nguyễn Minh Châu là một trong những tác giả nổi tiếng của làng văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Ông được coi là người “mở đường tài năng và tinh anh nhất”. Trước năm 1975, ông là một cây bút sử thi lãng mạn, viết nhiều về đề tài người lính.

Tuy nhiên, sau năm 1980, sáng tác của ông đi sâu vào cảm hứng đời tư thế sự với vấn đề đạo đức, và triết lý nhân sinh. Ông khám phá con người trong cuộc đời mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc, khám phá hạt ngọc ẩn dấu, khuất lấp trong những con người. Tiêu biểu cho những kiếm tìm đề tài và trách nhiệm của người nghệ sĩ là tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, in trong tập truyện cùng tên năm 1987.

Truyện ngắn được phát hành tháng 8/1983 được in trong tập truyện ngắn cùng tên, khi trận đánh tranh vệ quốc của dân tộc qua đi. giang sơn bước vào giai đoạn mới, thời kỳ độc lập thống nhất. Cuộc sống thời bình với muôn mặt của đời sống, đề ra nhu cầu nhận thức lại về hiện thực và cuộc sống con người trước đây do hoàn cảnh của chiến tranh vẫn chưa được đề ra

Là một tác phẩm đáp ứng được nhu cầu ấy, ”Chiếc thuyền ngoài xa” trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu và tiêu biểu cho cảm hứng đời tư thế sự, Xu thế chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Truyện ngắn được chia thành ba phần. Phần một: từ đầu cho tới “lưới vó biến mất”. Ở phần này, tác giả đi sâu vào kể về hai phát hiện của nhân vật Phùng. Phần hai: tiếp theo đến “giữa phá” là mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện. Và phần ba còn sót lại – tác giả nói về Bức hình được chọn vào bộ lịch năm ấy.

Tác phẩm mở đầu bằng một bức tranh tuyệt đẹp được người nghệ sĩ Phùng ghi lại vào một buổi sáng mờ sương ở một phà nước miền Trung. Phùng là nghệ sĩ nhiếp ảnh, được cấp trên giao cho chụp một Bức hình chủ đề thuyền và biển để đăng trong bộ lịch năm ấy.

Anh đã đi thực tiễn tại tại vùng biển miền Trung nơi trước kia đã từng chiến đấu và có người bạn ở đó. Khi đến đây anh bắt gặp một bức tranh tuyệt đẹp đó là hình ảnh của thuyền và biển trong sương sớm. Đây cũng đúng là tình huống độc đáo của truyện qua đó ta thấy được nhiều điều trong cuộc sống này. Nhưng sau bức tranh ấy Phùng lại có phát hiện mới.

Trước tiên, truyện ngắn này có một tình huống truyện hết sức độc đáo. Tình huống là vấn đề then chốt đối với truyện ngắn. Nhà văn tìm được tình huống độc đáo sẽ làm bạn đọc theo mẩu chuyện. Tình huống đúng là tình thế xảy ra câu truyện, khi nhân vật ở trong tình thế ấy sẽ bộc lộ rõ nhất thực chất, tính cách, phẩm chất của con người. Tình thế cũng hoàn toàn có thể là bước ngoặt làm thay đổi số phận, nhận thức hoặc có khi bộc lộ ra những cốt lõi sâu thẳm tiềm tàng trong truyện.

Tình huống truyện của ‘Chiếc thuyền ngoài xa’ là tình huống nhận thức, khám phá. Đây là một tình huống bất ngờ và đầy nghịch lý. Tình huống của truyện được thể hiện qua hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Tình huống đã giúp Phùng nhận thấy được nhiều điều về cuộc sống, con người và nghệ thuật. Cuộc đời vốn chứa nhiều xích míc, bất ngờ và đầy nghịch lý. Cần đến gần cuộc sống để khám phá sự thực bên trong và chiều sâu thực chất. cần phải có cái nhìn đa diện nhiều chiều để nắm vững bên trong số phận và tâm hồn con người.

Nghệ thuật phải luôn gắn liền với cuộc sống thì mới có ý nghĩa sâu sắc. Phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ Phùng là khung cảnh thiên nhiên hoàn mĩ, đẹp thơ mộng. Người nghệ sĩ phát hiện ra một vẻ đẹp trên mặt biển mờ sương. Đó là cảnh một chiếc thuyền trong buổi sớm mai đang dần tiến vào bờ Cảnh tượng khiến cho người nghệ sĩ cảm thấy may mắn và hạnh phúc khi được chứng kiến một bức tranh tuyệt vời đến như vậy. Nó giống như “một bức tranh mực tàu của một họa sỹ thời cổ”. “Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe …chiếu vào”. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con đang dần tiến vào bờ.

Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến màu sắc ánh sáng đều hài hòa với nhau làm nên một vẻ đẹp toàn bích. Tác giả gọi đó là cảnh “đắt” trời cho, vẻ đẹp mà trong cuộc đời diễm phúc lắm may ra bắt gặp được một lần. Nghệ sĩ Phùng tự nhận thấy rằng nét đẹp đúng là đạo đức. Trước bức tranh mực tàu ấy Phùng cảm thấy bồn chồn trong tim anh như có cái gì đang bóp chặt lấy. Đó là khoảnh khắc trong ngần của cuộc đời.

Người nghệ sĩ cảm thấy tràn ngập niềm hạnh phúc, anh thấy được cảm xúc trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân- thiện -mĩ của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình được thanh lọc trở thành trong trẻo và thanh khiết. trải qua cảm xúc của nhân vật Phùng, tác giả đưa ra quan niệm về nét đẹp. nét đẹp phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái chân-thiện-mĩ, nét đẹp là đạo đức.

Thế nhưng cảnh càng đẹp bao nhiêu thì thực tiễn cuộc sống lại đen tối bấy nhiêu. Đó đúng là phát hiện thứ hai của Phùng trước khung cảnh tuyệt vời ấy. Hiện thực nghiệt ngã của con người với số phận xấu số của những con người nơi đây đặc biệt là người đàn bà hàng chài hiện lên. Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ ấy là người phụ nữ xấu xí và người đàn ông hung dữ, cặp vợ anh xã hiện thân cho sự lam lũ đói khổ.

Chính khuôn mặt nét người của họ đã nói lên phần nào cái cuộc sống khổ cực mà họ phải chịu. Người vợ “trạc ngoài 40”, “mặt rỗ”, “thân hình cao lớn thô kệch”, “lưng áo bạc phếch”, “khuôn mặt lộ rõ sự mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới” … Hình như bao nhiêu sương gió nắng mưa của đất trời đã chiếu thẳng vào người đàn bà ấy vậy. Còn người đàn ông thì cũng chẳng hơn gì: “có tấm lưng rộng”, đi chân chữ bát khuôn mặt “độc, dữ”. Cả hai người đều là hiện thân của sự nhọc nhằn, nghèo khó của người dân hàng chài.

Một cảnh tượng ra mắt khiến cho nghệ sĩ Phùng không thể nào tin vào mắt mình và cái cảnh đẹp kia bỗng chốc trở thành một hình ảnh cực kì thậm tệ. Hai con người khổ sở ấy đi vào phía bãi xe tăng hỏng và thật bất ngờ trước cảnh tượng ấy: “Lão đàn ông lập tức trở thành hùng hổ,mặt đỏ gay,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng … lão trút cơn giận như lửa cháy bằng phương pháp dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà,lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két..”.

Trong “chiếc thuyền ngoài xa”, một thực sự còn trớ trêu,cay đắng nữa: Cha con lão làng chài coi nhau như kẻ thù “Thằng bé chạy một mạch,sự tức giận căng thẳng…lập tức nhảy xổ vào cái lão đàn ông… liền rướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực lão đàn ông”. Người nghệ sĩ Phùng như cay đắng nhận thấy những cái ngang trái, thảm kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu của chiếc máy ảnh mà anh dày công sáng tạo nghệ thuật bổng hiện hình một thực sự cuộc sống xót xa.

Bức hình về chiếc thuyền thì rất đẹp, nhưng cuộc sống đích thực của gia đình dân chài trên chiếc thuyền ấy chẳng có gì là đẹp. Sự nghịch lí ấy đề ra vấn đề đối với người nghệ sĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. “Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối” (Nam Cao). Những giọt nước mắt của người đàn bà hàng chài nhỏ xuống lấp đầy những vết rỗ chằng chịt kia. Một cảnh tượng nghiệt ngã đối lập với cái cảnh đẹp như ngư phủ của con thuyền.

Với hai phát hiện ấy Phùng chợt nhận thấy rằng cuộc đời không đơn giản một chiều mà chứa nhiều nghịch lý ngang trái, xích míc. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập, đẹp và xấu thiện và ác. Ở đây nhà văn khẳng định đừng nhầm lẫn hiện tượng với thực chất, hình thức phía bên ngoài với nội dung bên trong. Khi nhìn nhận đánh giá cuộc đời thì phải có cái nhìn đa chiều nhiều phía.

Nếu truyện ngắn chỉ dừng lại ở đây chắc chắn sẽ không đủ sức hút hoàn toàn có thể để lại dư âm trong lòng người đọc. Chính vì thế mà những tâm sự của người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện được viết ra. Sau khi chứng kiến cảnh bạo hành dã man bên chiếc xe tăng hỏng, Phùng đã nói với chánh án Đẩu từng là chiến hữu của anh để nhờ giúp đỡ.Phùng và Đẩu đều có ý tốt mong cho người phụ nữ ấy thoát khỏi người anh xã vũ phu.

Chính vì vậy người đàn bà hàng chài đã được chánh án Đẩu mời đến tòa án huyện và giải pháp được đưa ra là li hôn với anh xã. Người đàn bà hàng chài đến tòa án huyện thuở đầu chị tỏ ra rất sợ hãi khép nép sau khi nghe những phân tích và sự giúp đỡ của Đẩu thì chị bỗng bình tĩnh và thay đổi cách xưng hô không hề khép nép nữa mà nói ra những tâm sự những suy nghĩ của bản thân mình. Những lời tâm sự của chị đã khiến người đọc cũng phải ngỡ ngàng. Vẻ đẹp tâm hồn ẩn sâu bởi cái vẻ ngoài xấu xí, của người phụ nữ ấy đã khiến chánh án Đẩu và nhân vật Phùng nhận thấy được nhiều điều.

Người đàn bà kể lại cuộc đời mình rằng: Trước kia bà cũng là một người con nhà khá giả, nhưng sau một trận thủy đậu làm cho bà dỗ hết mặt không ai thèm lấy bà. Khi ấy ông anh xã của bà lại là người làm vườn. ba má mất đi người đàn ông ấy đã cứu vớt cuộc đời của bà chính vì thế mà bà bị đánh đập nhưng cũng không nỡ bỏ người anh xã đồng thời cũng là ân nhân của tôi. Hiện giờ cuộc sống của bà khổ về cả vật chất lẫn tinh thần.

Gia đình bà sống cùng nhau trên một con thuyền nhỏ. Con thuyền ấy vừa là phương tiện kiếm sống lại cũng là ngôi nhà che nắng che mưa. Bà thường xuyên bị đánh đập, ba ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng. Thế nhưng bà không hề chống lại anh xã mình, cam chịu, nhẫn nhục, bà coi một việc bị đánh là một chuyện đương nhiên, thậm chí sợ những con nhìn thấy bà xin anh xã đánh khi vào bờ.

Khi nghe những lời khuyên của Đẩu và Phùng, biết lòng tốt của họ nhưng bà nhất quyết không bỏ anh xã vì người anh xã là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của gia đình nhất là khi phong ba bão táp. Người đàn bà cần anh xã vì còn phải nuôi những đứa con kia. Và hơn nữa trên thuyền cũng có thể có những lúc gia đình hạnh phúc vui vẻ. Người đàn bà chắt chiu những hạnh phúc nhỏ nhoi đời thường khi nhìn thấy những con được ăn no.

Thị nhận lỗi, cho rằng đẻ nhiều con là cái tội của tôi. Trong suy nghĩ của Phùng, Đẩu và thằng Phác người đàn ông kia là kẻ thô lỗ, độc ác, dã man đáng lên án. Nhưng với người vợ thấu hiểu và cảm thông, người đàn ông ấy cũng chỉ là nạn nhân, hắn trước kia hiền lành lắm, cũng vì cuộc sống nghèo khổ quá nên mới như vậy. Từ đó cho thấy người đàn bà hàng chài tuy là một người phụ nữ không học hành, xấu xí nhưng lại có một trái tim nhân hậu tiêu biểu cho nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt nam. Thị là người chấp thuận hi sinh để sống cho những con, một người vị tha và sâu sắc lẽ đời.

Trước những lẽ ấy thoạt đầu Đẩu và Phùng nghiêm nghị thấy bất bình nhưng về sau thì như vỡ lẽ ra nhiều điều.Phùng từng là người lính chiến đấu giải phóng miền Nam khỏi nanh vuốt quân xâm lược nhưng lại không thể nào giải phóng được số phận của người đàn bà xấu số. Qua mẩu chuyện của người đàn bà, Phùng càng thấm thía: không thể đơn giản trong cái nhìn về cuộc đời và con người.

Cuộc sống này không chỉ là sống cho riêng mình hay nó vốn là cái mình nhìn thấy trên bề nổi mà nó là phần chìm bên trong mẩu chuyện kia. Vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài đã đem lại cho người đọc một thông điệp, một triết lý. Đó là phải nhìn mọi việc một cách toàn diện. Đó mới là cái giá trị đích thực của cuộc sống này. Từ một người đàn bà nhút nhát sợ hãi người đàn bà trở thành sâu sắc làm cho hai người đành phải để người phụ nữ ấy về với gia đình mình.

mẩu chuyện kết thúc khi Bức hình tuyệt bích được chọn in trong tấm lịch năm ấy và bức tranh còn được treo mãi trong những gia đình sành nghệ thuật. Điều này khẳng định giá trị nghệ thuật của bức tranh. mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài đã đi sâu vào tiềm thức của Phùng như một trải nghiệm mà mỗi khi nhìn vào Bức hình anh lại nhớ đến nó. Với anh, khi đứng trước Bức hình đen trắng lại thấy một màu hồng trong buổi sớm ban mai và nhìn kĩ hơn nữa lại thấy bước ra từ trong tranh là người đàn bà hàng chài lam lũ.

Như vậy nếu hiểu bức tranh thuyền và biển kia là hình ảnh của nghệ thuật và người đàn bà hàng chài bước ra từ trong tranh là hình ảnh của cuộc đời thì Nghệ thuật và cuộc đời phải gắn liền với nhau. Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống thì cũng phải gắn liền với cuộc sống. Nghệ thuật phải luôn gắn liền với cuộc sống thì mới có ý nghĩa sâu sắc.

Với cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, mới lạ, mang ý nghĩa sâu sắc khám phá, phát hiện về cuộc đời, và cách trao ngòi bút cho nhân vật kể chuyện (nhân vật Phùng), “Chiếc thuyền ngoài xa” đã để lại ấn tượng sâu đậm. Thành công của Nguyễn Minh Châu là đã đem lại cho người đọc một tác phẩm đầy tính triết lý và chiêm nghiệm về cuộc đời, con người và cả nghệ thuật. Những triết lý luôn đúng với mọi thời đại.

Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn trước tiên của giai đoạn đổi mới đã đi sâu khám phá thực sự đời sống, dũng cảm thể hiện những góc khuất của cuộc đời ngay trong chính sách xã hội đẹp đẽ của chúng ta. Đúng như lời của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nói: “Nhà văn không tồn tại quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới thực chất con người vào những tầng sâu lịch sử”.

Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: Mỗi người trong cõi đời,nhất là người nghệ sĩ,không thể đơn giản,sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người. Cần một cách nhìn đa dạng nhiều chiều, phát hiện ra thực chất thật sau vẻ đẹp phía bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong thái tự sự – triết lí của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Bài văn mẫu 9

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Hành trình sáng tác của ông được chia ra làm hai giai đoạn rõ rệt. Trước thập kỉ 1980, ông là ngòi bút sử thi có khuynh hướng trữ tình lãng mạn. Từ đầu thập kỉ 1980 cho tới khi mất, cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh trở thành mạch nguồn văn chương dồi dào trong ông.

Và “Chiếc thuyền ngoài xa” đúng là một tác phẩm văn học nổi tiếng thuộc giai đoạn thứ hai, là đại diện tiêu biểu cho hành trình sáng tạo nghệ thuật lấy với tâm điểm là con người trong công cuộc mưu sinh, trong quy trình nhọc nhằn đi tìm hạnh phúc.

“Chiếc thuyền ngoài xa” kể về tình huống của nghệ sĩ Phùng khi anh đi tìm kiếm ngoại cảnh để chụp những Bức hình đẹp ở một bãi biển miền Trung. Ở đây anh đã phát hiện một cảnh “đắt” trời cho mà có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh vẫn chưa lúc nào thấy. Nhưng đằng sau Bức hình thiên nhiên lãng mạn được phủ bởi lớp sương mù trắng có pha màu hồng là một thực sự nghiệt ngã về cuộc sống của một gia đình hàng chài.

Cảnh đói nghèo và bạo hành gia đình ra mắt ngay trước mắt. Hóa ra, nét đẹp của nghệ thuật không hề trùng khít với nét đẹp của cuộc sống. Trong buổi tòa ở huyện, nhiếp ảnh Phùng đã chứng kiến mẩu chuyện đầy cảm động của người đàn bà hàng chài hôm trước và cũng trải qua người đàn bà này, anh bắt đầu ngộ và vỡ lẽ ra nhiều điều trong cuộc sống.

Tác phẩm được mở ra bằng hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng. Phát hiện thứ nhất là về nghệ thuật, sau một tuần “phục kích” ở bãi biển, Phùng cũng đã tìm được cho mình một cảnh “đắt” trời cho. Bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và khoáng đãng hiện ra trước mắt, thu trọn cả tâm hồn anh “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, “toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở thành bồn chồn, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”…

Phùng đã không ngại ngần gì nữa mà bấm “liên thanh” như muốn đem toàn bộ những vẻ đẹp kia đặt trọn vào ống kính của tôi. nét đẹp phía bên ngoài của sự vật đã làm cho người nghệ sĩ kia ngẩn ngơ tức thì. Phát hiện thứ hai là về cuộc đời, ẩn giấu đằng sau vẻ đẹp nghệ thuật là thực sự đầy nghịch lí, xót xa. Phía sau bức tranh thiên nhiên tươi đẹp là bức tranh hiện thực đầy khắc nghiệt, lem lấm những bước đường mưu sinh của con người.

Đó là người vợ xấu xí, thô kệch, mệt mỏi và cam chịu. Đó là người anh xã bạo hành, xem việc trút xuống vợ mình những cơn tức giận bằng chiếc thắt lưng quật tới tấp xuống lưng là niềm giải tỏa “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Ẩn đằng sau nét đẹp toàn bích lại là sự tàn nhẫn khôn cùng. toàn bộ hiện thực cuộc sống phơi bày trước mắt Phùng cực kì bất ngờ, trớ trêu, quái ác.

Nguyễn Minh Châu ngay từ đầu cũng đã khéo léo đan cài Điều đó vào nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa” – cái tên dễ liên tưởng đến một chiếc tên khác: “ngoài xa” – “vào gần”. Ngoài xa, chiếc thuyền là một hình tượng của nét đẹp, của sự toàn bích, của khát khao thu trọn từng khoảnh khắc lãng mạn, nên thơ ấy bằng sự xúc động của một nghệ sĩ nhiếp ảnh.

Vào gần, đó là bức tranh cuộc sống cực kì khắc nghiệt, gai góc và phức tạp khôn cùng, nó đã được bao phủ bởi lớp sương hồng mờ ảo mà nếu không chịu khó vén mở, toàn bộ đều bị đánh lừa. Phùng ngạc nhiên trước hoàn cảnh đó, thuở đầu “cứ đứng há hộc mồm ra mà nhìn”, sau đó đã “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới”.

Hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng đã mang tới ý nghĩa sâu sắc sâu sắc cho tác phẩm, có ý nghĩa sâu sắc khám phá, phát hiện đời sống. Trước hết, đó mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc đời. Đánh giá sự vật nếu chỉ dừng lại ở vẻ đẹp, vẻ hấp dẫn phía bên ngoài tức là bỏ qua chiều kích, ý nghĩa sâu sắc của bề sâu, là thoát li thực tại. Ta thấy, tiếp cận hiện thực ở khoảng cách “ngoài xa” khó lòng thấm nhuần được những mẩu chuyện đằng sau bức tranh phong cảnh khi “vào gần”. Cũng cùng là một đối tượng, nhưng cách tiếp cận, thái độ tiếp cận không giống nhau sẽ dẫn những muôn hình vạn trạng cuộc sống.

mẩu chuyện người đàn bà ở tòa án huyện cũng là một nội dung quan trọng để mở ra những bài học sâu sắc cho người đọc. Số phận con người dần dần được thể hiện qua lời thoại của những nhân vật, từ đó mở ra chiều sâu triết lí cho tác phẩm. Qua lời kể của người đàn bà, Phùng dần có sự vỡ lẽ trong nhận thức, dần nhận thấy sự đa chiều, phức tạp trong những con người, mỗi hoàn cảnh.

Được tòa mời lên giải quyết việc gia đình, người đàn bà đã có mặt nơi tòa án, nơi làm việc của Đẩu – bạn tri kỷ của Phùng. thuở đầu, người đàn bà có vẻ lúng túng, đầy sợ sệt, xưng là “con” và gọi Đẩu là “quý tòa”. Sau đó, chị đột ngột đổi sang xưng “chị”, gọi Phùng và Đẩu là “những chú”. Sự xưng hô ấy có một ý nghĩa sâu sắc đặc biệt, từ một người đàn bà nhỏ xíu, cam chịu trở thành một người thầy, một vị quan tòa chỉ dạy Phùng và Đẩu cách nhìn đời, nhìn cuộc sống.

Ta thấy, dù chịu cảnh “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, từ đầu đến cuối, người đàn bà vẫn không chấp thuận từ bỏ anh xã, dù cho Phùng và Đẩu có tốn bao nhiêu lời khuyên răn. Cuộc đời của chị là trải dài của những xấu số, chị không chỉ là sống cho riêng mình, mà còn vì anh xã, vì con. Chị tự trách cảnh nghèo nàn kia là do mình đẻ nhiều quá và cảm thông, thấu hiểu cho người anh xã “lão anh xã tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không lúc nào đánh đập tôi”.

Chị hi sinh cả đời mình để sống cho con “đàn bà chúng tôi phải sống cho con chú không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Chị trân trọng, chắt chiu từng hạnh phúc nhỏ nhoi “vui nhất là nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Từ đó, ta thấy, hình ảnh người đàn bà không thể chỉ nhìn ngắm đơn giản phía bên ngoài, không phải chỉ là người phụ nữ cam chịu, là nạn nhân của bạo hành, là người sinh ra với những đau thương như số mệnh an bài mà còn là đại diện cho sự nhẫn nhục của người mẹ, người vợ; là đại diện cho tình thương và trách nhiệm với con, với anh xã, với gia đình.

Bức hình của nhiếp ảnh Phùng đúng là kết tinh của một quy trình thăm dò, khám phá hiện thực cuộc sống một cách đa dạng, nhiều chiều “tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, lúc nào tôi cũng thấy người đàn bà bước ra khỏi ảnh”. Vẫn là hình ảnh “tấm lưng bạc phếch có miếng vá”, hình ảnh người đàn bà trong Bức hình của Phùng đã để lại những dư ba trong lòng người đọc mãi về sau.

Về nghệ thuật, trước nhất Nguyễn Minh Châu đã thành công trong việc xây dựng cốt truyện. Đó là cách tạo tình huống mang tính chất khám phá, phát hiện về đời sống, đặc biệt là trải qua hình ảnh người nghệ sĩ Phùng. thuở đầu, Phùng nhìn đời bằng con mắt của người nghệ sĩ. Sau đó, qua những biến cố, những sự kiện, nhận thức và cách nhìn nhận đã có sự biến chuyển, từ thơ mộng sang hiện thực, hiểu sâu hơn về người đàn bà, về chị em thằng Phác…

Bên cạnh đó, cách gọi tên phiếm định “người đàn bà hàng chài” như một cách gọi chung, nêu lên một số phận chung của những con người nhọc nhằn trong công cuộc mưu sinh. Cách mô tả, xây dựng hệ thống ngôn ngữ thích hợp với những tính chất tính của nhân vật. Lão đàn ông hiện lên với dáng hình thô bỉ, tàn nhẫn qua ngôn ngữ hung bạo, tục tĩu. Người đàn bà thô kệch, xấu xí, xấu số kia được dựng lên bằng sự dịu dàng, yêu thương con và sự thấu hiểu lẽ đời…

Qua tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, chúng ta cũng hoàn toàn có thể hiểu vì sao Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “thuộc trong số những nhà văn mở đường cho tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay”. trải qua những nhân vật trong truyện, nhà văn đã cho ta thấy hành trình khám phá thực sự đời sống ở bình diện đạo đức thế sự với việc đặt con người, cách nhìn con người lên làm trung tâm của sáng tạo văn chương, nghệ thuật.

Bài văn mẫu 10

Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu được đánh giá mang tính chất tự sự và triết lí. Mỗi tác phẩm ông viết lên luôn nhằm khám phá, phát hiện ra muôn vàn vẻ đẹp của cuộc sống. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những tác phẩm xuất sắc của họ, được viết năm 1983, khắc họa cái lãng mạn của nghệ thuật và sự trần trụi của hiện thực đời thường.

Nhận được yêu cầu của thủ trường, Phùng đã mang máy ảnh về vùng chiến trường cũ, chụp một bức tranh kiệt tác để hoàn thành bộ lịch năm nay. Và trong lần ấy người nghệ sĩ đã chiêm nghiệm được biết bao chuyện, biết bao điều trong cuộc sống đầy những lo toan, vất vả này.

Sau những ngày chật vật, quả thực hôm đó người nghệ sĩ Phùng đã gặp vận may hiếm có, cảnh đẹp trời cho hiện ngay trước mặt Phùng. Anh không chần chừ, vội vàng lôi máy ra tác nghiệp, khung cảnh trước mắt hiện ra cực kì diệu kì: “thuyền in một nét mơ hồn lòe nhòe vào bầu sương mù white color như sữa có pha đôi chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Và bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. toàn bộ khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi…”. Đây quả là bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ. Trái tim anh Hình như bị bóp nghẹn, bồn chồn không nói thành lời trước nét đẹp của thiên nhiên, tạo hóa. Lúc bấy giờ anh mới cảm thấm được “nét đẹp đúng là đạo đức”. nét đẹp và nghệ thuật đã thanh lọc tâm hồn con người, giúp tâm hồn con người ta trở thành thánh thiện hơn. Nhưng chúng ta cũng cần để ý đến một chi tiết, đó là vị trí khi Phùng chụp ảnh vẫn còn đấy đó ngổn ngang những tàn dư của chiến tranh để lại. Có phải chỉ vì đôi mắt thi vị hóa lãng mạn hóa của một người nghệ sĩ mới khiến Phùng cảm nhận được khung cảnh “trời ban kia”. Đồng thời, cũng chính bởi vậy, sau này khi phát hiện ra thực sự Phùng đã hụt hẫng biết nhường nào.

Đằng sau bức tranh toàn bích kia lại là một hiện thức làm người ta nhói lòng. Trong cảnh thanh tĩnh là tiếng gầm ghè, đầy phẫn nộ “cứ ngồi nguyên đây, động đậy tao giết cả mày đi lúc này” rồi hình ảnh người đàn bà dần dần lộ diện, to lớn, thô kệch đi sau người đàn ông hung ác, độc dữ. Những gì xảy ra sau đó làm cho Phùng quá đỗi bất ngờ và choáng váng. Người đàn ông rút chiếc thắt lưng, vừa quất tới tấp vào người đàn bà. Nhưng kì lạ thay người phụ nữ đó không hề than vãn lấy một tiếng, Điều đó làm Phùng “há mồm mà nhìn” cực kì “ngạc nhiên”. Sau nỗi ngạc nhiên, Phùng vứt chiếc máy ảnh xuống vội vàng can ngăn. Thì chính lúc này, một chiếc bóng nhỏ con lao vụt đến, nhắm thẳng vào người đàn ông.

Người mẹ tội nghiệp, gọi tên đứa con “ôm chầm lấy thằng bé, rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để rồi lại ôm chầm lấy…”, khiến người đọc không khỏi xót thương, xúc động. toàn bộ những hình ảnh đó làm Phùng bàng hoàng, đau đớn. Rất nhanh gia đình nọ rời đi, khung cảnh trở về cảnh thanh tĩnh như nó vốn có. Với Phùng đây có lẽ là một chuyến đi nhiều ý nghĩa sâu sắc: “chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, ẩn hiện trong sương mù, còn thực sự cuộc đời thì trần trụi, ở ngay trước mắt”. Phùng đau đớn vì trước nay cái nhìn của tôi quá giản đơn, xuôi chiều, mà hiện thực cuộc sống lại cực kì đa đoan, phức tạp.

Lần tiếp theo Phùng và người đàn bà hàng chài tái ngộ nhau đúng là ở trụ sở tòa án huyện. Và lần này cả Phùng và Đầu đều có những chiêm nghiệm riêng cho mình về con người và cuộc đời. Người đàn bà lúc này ngồi sâu nơi góc tường, cố thu mình lại, dáng vẻ cực kì sợ sệt. Có lẽ đây là lần trước tiên người đàn bà này đến cơ quan công quyền của nhà nước. Mụ phủ phục, lạy lấy lạy để cực kì đáng thương: “con lấy quý tòa” “quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt bỏ nó”. Vì sao vậy? Vì sao mụ lại xin tha cho một kẻ độc ác, nhẫn tâm đánh ba ngày một trận nhẹ, bảy ngày một trận nặng. Nào Phùng và Đẩu hoàn toàn có thể hiểu được. Sau những bỡ ngỡ thuở đầu, người đàn bà có vẻ đã quen hơn, chị tâm sự về cuộc đời mình, về sự việc không ai lấy, tâm sự về người anh xã hiện tại: “lão anh xã tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không lúc nào đánh đập tôi”. Rồi bà lí giải nguyên nhân vì sao anh xã mình lại sinh ra tính như vậy. chính vì cảnh nghèo, chính vì khổ quá, nên đàn ông trên thuyền chỉ biết hoặc uống rượu, hoặc đánh vợ mỗi khi cảm thấy khổ quá. Bởi, trên vai người đàn ông đó phải gánh vác biết bao trách nhiệm, nhất là những lúc biển động: “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho tới khi khôn lớn, cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được…”. Đó là lí do vì sao dù bị anh xã đánh chị vẫn cam tâm tình nguyện, vẫn xin tha cho hắn. Bởi ngoài những lúc bị đánh đập qua, cuộc sống hòa thuận, nhìn đám con được ăn no chị cũng cảm thấy cực kì vui long,…

Chỉ qua những lời sẻ chia hết sức ngắn gọn của chị ta hoàn toàn có thể thấu hiểu được nỗi thống khổ, sự cam chịu, nhẫn nhục trong người phụ nữ này. Tình mẫu tử thiêng liêng đã khiến chị sẵn sàng hi sinh mọi thứ để con được sống, được ăn no. Đồng thời cũng giúp ta thêm hiểu căn nguyên của tình trạng bạo lực trong những gia đình nghèo khổ.

Quả thực qua mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài ta lại càng thấy rõ hơn không chỉ là thể đánh giá một con người, một sự việc qua vẻ bề ngoài của nó. Sự việc, con người vốn nông sâu khôn lường, nếu không truy nguyên, không lắng lòng để nghe thì cả đời này chúng ta chỉ là những kẻ hời hợt, đi đánh giá mọi chuyện bằng con mắt thờ ơ.

tạo ra sức hấp dẫn cho tác phẩm này phải kể tới nghệ thuật tạo dựng tình huống bất ngờ, hấp dẫn. Nhà nhiếp ảnh phát hiện khoảnh khắc trời cho, nhưng đằng sau đó lại là cảnh bạo lực tàn nhẫn. Cho người đàn bà đến để nói chuyện, để phân tích lí giải nhưng nào ngờ chính Phùng và Đẩu lại được người phụ nữ tưởng như thô kệch ấy làm cho “sáng mắt”. Giúp họ hiểu hơn những quanh co, uẩn khúc trong cuộc đời, từ đó có những nhận xét đánh giá đứng đắn trước bất kỳ sự việc, hiện tượng nào.

Với tình huống truyện đặc sắc, chân thực Chiếc thuyền ngoài xa mang giá trị nhân đạo và nhân bản sâu sắc. Cuộc đời này gồm cả rồng phượng, gồm cả đúng sai, tốt xấu. Bởi vậy khi đánh giá bất kỳ điều gì cũng không nên hời hợt. Cuộc sống này cực kì phức tạp, để hiểu nó cần phải soi ngắm từ nhiều phía, nhiều góc cạnh. Bài học cho Phùng và Đầu cũng đúng là những gì Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm đến những thế hệ bạn đọc.

Bài văn mẫu 11

Với Nguyễn Minh Châu nhà văn tồn tại ở đời là để nâng giấc cho những con người cùng đường, tuyệt lộ, những người bị cái ác và sự xui rủi dồn đến chân tường vô vọng, để bênh vực cho những con người không tồn tại ai bênh vực. Niềm khát khao bênh vực, bảo vệ những con người bị chà đạp, đày đọa hắt hủi như thế cùng với tấm lòng thiết tha truy tìm những vẻ đẹp tiềm tàng sâu tận đáy tâm hồn của mỗi con người, trở thành nguồn sáng giúp Nguyễn Minh Châu viết nên tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, một trong những tác phẩm kiệt tác của nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Tác phẩm chứa đựng những giá trị nhân văn, những triết lý sâu sắc về đời người bằng ánh nhìn đa diện nhiều chiều của tác giả, về mối liên quan chỉ cách nhau một ranh giới thật mỏng manh là hiện thực cuộc đời và nghệ thuật.

Nguyễn Minh Châu nổi tiếng với nhiều tác phẩm như Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau,… nhà văn Nguyễn Trung Thành từng ca tụng “Nguyễn Minh Châu thuộc vào trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng” nhất của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Suốt cuộc đời cầm bút, ông luôn trăn trở, tìm tòi cái hạt ngọc quý vẫn ẩn giấu trong tâm hồn của mỗi con người bình thường nhất. Chiếc thuyền ngoài xa phát hành tháng 8/1983, in trong tập Bến quê (1985), sau trở thành nhan đề chung cho tập Chiếc thuyền ngoài xa. Tác phẩm là mẩu chuyện về chuyến công tác xa của một nhiếp ảnh tên Phùng, sau chuyến công tác ấy anh đã nhận được ra những quan niệm mới mẻ về nghệ thuật, về nét đẹp và về đời người đầy những vết nham nhở, sần sùi.

Chiếc thuyền ngoài xa bắt đầu bằng một cốt truyện độc đáo và bất ngờ, nếu nói mạch cảm xúc và cấu tứ là cái để người ta vịn vào tìm hiểu nội dung của một văn bản thơ, thì tình huống truyện đúng là một khởi điểm chắc chắn để khai thác, tìm tòi những cái đặc sắc của một tác phẩm văn xuôi. Đó là những sự kiện éo le, bất ngờ, khác lạ để mở ra một mẩu chuyện dài ở phía sau, mà theo như ý của Nguyễn Minh Châu thì tình huống truyện là “cái tình thế mà ở đó sự sống hiện ra một cách đậm đặc, cái khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người”. Từ tình huống truyện tính cách, số phận của nhân vật được gợi mở, cũng từ tình huống truyện mà chủ đề cũng như những giá trị mà tác giả xây dựng được hé lộ một cách tinh ý và độc đáo.

Trong chuyến công tác dài ngày, sau nhiều buổi sáng “phục kích” tại bãi biển thì sau cùng may mắn cũng đang đi vào với thợ chụp ảnh là Phùng, một “cảnh đắt trời cho” đã xuất hiện ngay trước mắt mà có lẽ suốt cả cuộc đời cầm máy ảnh anh vẫn chưa từng được thấy lúc nào, đó là một cảnh được ví như là “bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”. Phùng sướng điên người, đến mức giơ máy ảnh lên bấm “liên thanh” hết cả một phần tư cuốn phim. Cảnh chiếc thuyền lưới vó cập bến, dưới cái tia nắng “hồng hồng” tờ mờ hơi sương quả thực là tuyệt mỹ, khiến người ta lặng người, tim thắt chặt lại bởi cái sự “đơn giản và toàn bích”. Như vậy phát hiện thứ nhất của Phùng đúng là “khám phá ra cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”, rằng vẻ đẹp của nghệ thuật là đạo đức.

Nhưng những tưởng một cảnh đẹp ấy sẽ là mãi mãi không tồn tại một tỳ vết thì phát hiện thứ hai của Phùng lại Hình như lật ngược lại vẻ toàn mỹ, phá tan đi cái sự toàn bích, toàn thiện, phá tan đi cái “im phăng phắc” của một buổi sớm mai đẹp đẽ bình yên. Một người đàn bà thô kệch, lam lũ lững thững bước ra từ “bức tranh mực tàu”, một người đàn ông thô lỗ, cục súc bước theo sau kèm theo tiếng quát dọa “giết” thật đáng sợ. Cảnh bạo lực gia đình ra mắt ngay trước mắt Phùng người đàn ông thẳng tay quất chiếc thắt lưng vào lưng người đàn bà, hắn ta vừa đánh điên cuồng vừa thốt những lời nguyền rủa độc địa “Mày chết đi cho ông nhờ! Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. không tồn tại một sự chống trả, người đàn bà lặng im chịu đựng trận đòn roi, không chạy trốn, Hình như đã chai sạn, chán chường và nhẫn nhục.

Phùng chết sững bởi chỉ mới trước đó thôi những con người ấy còn đóng một vai trong cái cảnh toàn bích, hoàn mỹ, mà trước mắt lúc này lại là hiện thực tàn nhẫn, Điều đó như giáng một chiếc tát đau điếng vào tâm hồn của người nghệ sĩ yêu nét đẹp. Với tâm hồn lương thiện và đạo đức của một con người Phùng quăng ngay máy ảnh, định lao vào can ngăn cái cảnh khốn nạn kia, thế nhưng bất ngờ hơn khi đứa con trai của họ đã lao vào giằng lấy thắt lưng của người bố đánh trả để bảo vệ mẹ, lão đàn ông cho nó một chiếc tát như trời giáng, rồi bỏ đi. Ôi! Chuyện gì đang ra mắt giữa một buổi sáng thế này, Phùng bàng hoàng, Phùng sốc trước cảnh anh xã đánh vợ, con đánh bố, rồi bố đánh con, thật hỗn loạn, phá nát hết cái vẻ đẹp tuyệt mĩ mà anh vừa mới nhận thấy. Lúc này đây anh mới vỡ lẽ hóa ra ranh giới giữa cái vẻ đẹp toàn mỹ, toàn bích và thực sự nghiệt ngã xấu xa của cuộc sống chỉ cách nhau một bức màn mỏng manh, chúng chẳng thể chịu được sự tàn phá của hiện thực cuộc đời đầy xấu xí.

Hiện thực và nghịch lý cuộc sống hầu như thể hiện một cách rõ nét trên hình ảnh người đàn bà hàng chài, chị là hiện thân cho nỗi khốn khổ, nhọc nhằn của những người phụ nữ miền biển của việt nam sau ngày giang sơn giải phóng không lâu. Cuộc đời người phụ nữ nào phải nói là quá xấu số khi phải gánh trên lưng ba nỗi khổ lớn, thứ nhất là ngoại hình xấu xí, dáng dấp cao lớn, “đường nét thô kệch”, khuôn mặt lại chằng chịt những nốt rỗ sau một trận đậu mùa thời nhỏ, nét mặt thì nhợt nhạt vì thức đêm nhiều, lại phải lao động vất vả cả đêm. Bà vốn xuất thân khá giả nhưng khốn nỗi vì quá xấu nên không ai lấy, bởi vậy nên việc xấu xí đã là một xấu số to lớn trong cuộc đời người phụ nữ. Sau khi lấy anh xã, sinh con thì chị lại tiếp tục mang trên vai nỗi khổ nghèo túng, nhà đông con thuyền thì nhỏ, cuộc sống quá đỗi vất vả, nhọc nhằn, đến nỗi có những ngày đằng đẵng phải ăn cả xương rồng luộc chấm muối.

Cái nghèo đã hành hạ thân xác, còn hành hạ cả về tâm hồn của người phụ nữ này khi phải lo toan bộn bề cuộc sống. Sống vốn đã vất vả chị còn có nhiều con, mang nặng đẻ đau tới trên dưới mười đứa con toàn bộ, càng đẻ, cuộc sống càng khó khăn càng đè nặng trên đôi vai của chị, cuộc sống càng thêm túng quẫn. Đó là một chiếc vòng luẩn quẩn không lối thoát. nghèo nàn, đông con đã gần như làm đôi vai người đàn bà ấy sụp xuống thế nhưng chị vẫn phải tiếp tục chịu đựng sự vũ phu với những cơn đòn “ban ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” từ người anh xã. Điều đó không những đem lại đau đớn vô hạn về thân xác mà còn gây tổn thương sâu sắc đến tâm hồn của người đàn bà làng chài, khi bị người đầu ấp tay gối hằng ngày đánh đập, chì chiết. Và hơn cả là nỗi lo lắng về sự mất niềm tin, về những sang chấn tâm lý mà những đứa con nhỏ của chị phải gánh chịu, chị sợ chúng nó bị tổn thương ám ảnh về những kỷ niệm ấy thơ tàn nhẫn mà bố gây ra cho mẹ chúng nó.

Phùng chứng kiến cái cảnh khốn khổ của người phụ nữ xấu số, nhiều lần khuyên chị ly hôn để giải thoát khỏi cái gã anh xã vũ phu, nhưng chị một hai không đồng ý. Bề ngoài chắc có nhiều người lắc đầu vì sự cố chấp của người đàn bà ấy, nhưng mấy ai hoàn toàn có thể hiểu vén lên cái bức màn nghiệt ngã, thì bao nhiêu uẩn khúc, bao nhiêu cái bất đắc dĩ mới dần lộ ra. Trong cái khốn khổ, xấu số của một người đàn bà xấu xí ta lại bất chợt nhận thấy những vẻ đẹp tâm hồn thật đáng quý, chị không muốn bỏ anh xã, trước là vì đã từng chịu ơn hắn ta, lòng biết ơn anh xã vì đã cứu rỗi cuộc đời chị, đã cho chị một mái ấm gia đình mặc dù lúc này nó cũng sứt sẹo, chẳng mấy hạnh phúc.

Nếu như những người như thằng Phác, Phùng, chánh án Đẩu đều thấy lão anh xã là một kẻ đáng ghét, man rợ, đáng bỏ thì chị lại cho rằng anh xã chị là một người đáng thương rất cần phải thông cảm, sẻ chia. Chị nhớ về những ngày xưa, nhớ về những điều đẹp đẽ của người anh xã “cục tính nhưng hiền lành không lúc nào đánh đập tôi”, vì trốn lính mà gia đình đâm túng quẫn , chính cái nghèo nàn đã khiến anh xã chị trở thành một kẻ vũ phu, cục súc. Người đàn bà khốn khổ vơ hết lỗi về phần mình “giá mà tôi đẻ ít đi”, chị nhẫn nhục chịu đựng, lại có tấm lòng bao dung vô bờ bến, nhìn và thấu hiểu những nỗi khổ mà người khác gánh chịu để cảm thông, chỉ duy nhất chị không bao dung cho bản thân mình.

Người phụ nữ ấy hy sinh, nhẫn nhục cũng không chỉ là vì lòng biết ơn, lòng thông cảm hay tình yêu với anh xã mà trên toàn bộ là vì những đứa con thân yêu của tôi. Lòng người mẹ lúc nào cũng bao la mà rộng rãi đến thế, chị còn phải nuôi hơn chục đứa con thơ dại, chị cần “một người đàn ông chèo chống lúc phong ba”. Chị mặc định “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho tới khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ” cho nên họ “phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”, cả cuộc đời người đàn bà làng chài có lẽ chỉ có hy sinh, với chị nhìn con được ăn no cũng là hạnh phúc lắm rồi, rồi cũng có thể có những lúc gia đình chị “hòa thuận vui vẻ”.

Người đàn bà làng chài còn là một người có suy nghĩ thâm trầm sâu sắc, hiểu lý lẽ, thấu tình đời, chị dễ dàng nhận thấy cuộc sống trong đôi mắt của Phùng và chánh án Đẩu quá ngây thơ, quá giản đơn. Chị dùng những lý lẽ hết sức thuyết phục, chị mở lòng nói về đời mình để cho hai người họ hiểu được rằng tại sao chị không thể bỏ anh xã, chị cũng biết khổ biết đau đớn chứ, nhưng đã vào trong cái khốn khổ ấy người ta mới phát hiện có những chuyện không thể nào làm khác.

Đó đúng là nghịch lý của cuộc sống, phải lúc này đây nhân vật Phùng mới thông suốt được, anh nhận thấy rằng không thể giải phóng con người khỏi đói nghèo, khỏi bạo lực gia đình chỉ bằng lòng tốt và pháp lý . Cũng nhận thức được việc không thể chỉ dùng cái nhìn phiến diện một chiều để đánh giá toàn thể sự việc, mà phải dùng đôi mắt trực quan nhiều chiều để suy xét và tìm hiểu. Hơn cả là bài học rút ra rằng nghệ thuật phải gắn liền với cuộc đời, phải đi ra từ những hiện thực khốn khổ, phải đào sâu tìm kỹ, khai thác cho được cái hạt minh châu chôn giấu trong tâm hồn mỗi một số phận con người, đó mới là làm nghệ thuật chân chính.

Nguyễn Minh Châu, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng đều là những người có nhận thức rất sâu sắc và tinh ý về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Nam Cao từng thốt lên rằng “Chao ôi, nghệ thuật không cần thiết phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ hoàn toàn có thể là tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”, còn Nguyễn Huy Tưởng viết trong Vũ Như Tô rằng: “Nghệ thuật mà không gắn liền với đời sống thì đó nó chỉ là những bông hoa ác mà thôi”. Nguyễn Minh Châu cũng đồng những quan điểm vậy, ông sâu sắc nhận thấy rằng “Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan”, làm chi đâu có cảnh toàn bích, toàn mỹ, chẳng qua ấy chỉ là bề nổi, ẩn sâu sau đó là những hiện thực phũ phàng. Mà từ đó người nghệ sĩ phải dùng một đôi mắt đa diện, thấu hiểu để nhìn nhận những vẻ đẹp đạo đức và nhân văn, không nên chạy theo những vẻ đẹp dẫu hào nhoáng mà trống rỗng, vô hồn.

Bài văn mẫu 12

Nguyễn Minh Châu –người mở đường tinh anh và tài năng của văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới. Những tác phẩm của ông để lại dấu ấn sâu sắc với người đọc: “Mảnh trăng cuối rừng”, “Bức tranh” và đặc biệt là tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” viết vào những năm đầu giai đoạn đổi mới.

Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa dạng nhiều chiều, phát hiện ra thực chất thật sau vẻ đẹp phía bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong thái tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu: với cách khắc họa nhân vật, xây dựng cốt truyện độc đáo và sáng tạo.

Để có một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật vừa lòng, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tiễn chụp bổ sung một Bức hình với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Nhân chuyến đi thăm Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa, giờ đang là chánh án huyện, Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Đã mấy buổi sáng mà anh vẫn vẫn chưa chụp được một Bức hình nào. Sau một tuần lễ, Phùng đã chụp được một Bức hình tuyệt đẹp về chiếc thuyền ngoài xa: “một chiếc thuyền lưới vó… như là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. toàn bộ khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi…”. Bức hình “Chiếc thuyền ngoài xa” là một vẻ đẹp mà cả đời bấm máy có lẽ Phùng chỉ có diễm phúc bắt gặp một lần: “Trong giây phút bồn chồn, Phùng tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Bức hình “Chiếc thuyền ngoài xa” là sự phát hiện thú vị của người nghệ sĩ trên con đường sáng tạo nét đẹp nghệ thuật.

Tác phẩm không dừng lại ở đó, người nghệ sĩ Phùng bàng hoàng khi phát hiện ra thực sự của cuộc sống bên trong Bức hình tuyệt mĩ của “Chiếc thuyền ngoài xa”:Bước ra là một người đàn bà mệt mỏi, cam chịu và một lão đàn ông dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như là phương cách giải tỏa những uất ức khổ đau: “Lão đàn ông lập tức trở thành hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng … lão trút cơn giận như lửa cháy bằng phương pháp dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két”. Trong “chiếc thuyền ngoài xa”, một thực sự còn trớ trêu, cay đắng nữa:Cha con lão làng chài coi nhau như kẻ thù “Thằng bé chạy một mạch, sự tức giận căng thẳng…lập tức nhảy xổ vào cái lão đàn ông liền rướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực lão đàn ông”. Người nghệ sĩ Phùng như cay đắng nhận thấy những cái ngang trái, thảm kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu của chiếc máy ảnh mà anh dày công sáng tạo nghệ thuật bổng hiện hình một thực sự cuộc sống xót xa. Bức hình về chiếc thuyền thì rất đẹp, nhưng cuộc sống đích thực của gia đình dân chài trên chiếc thuyền ấy chẳng có gì là đẹp. Sự nghịch lí ấy đề ra vấn đề đối với người nghệ sĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. “Nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối” (Nam Cao).

Phùng từng là người lính cầm súng chiến đấu để đem lại cuộc sống bình yên, đẹp đẽ. Nhưng hiện thực cuộc sống vẫn còn đấy đó những góc khuất. Đặc biệt là mẩu chuyện của người đàn bà làng chài ở tòa án huyện. Bề ngoài, đó là một người đàn bà nhẫn nhục, cam chịu, bị anh xã thường xuyên hành hạ, đánh đập thật khốn khổ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, nhưng người đàn bà vẫn kiên quyết gắn bó với lão đàn ông ấy: “Con lạy quý tòa. . Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Nguồn gốc của những nghịch lí đó là tình thương vô bờ đối với những đứa con “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng. . phải sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Phùng từng là người lính chiến đấu giải phóng miền Nam khỏi nanh vuốt quân xâm lược nhưng lại không thể nào giải phóng được số phận của người đàn bà xấu số. Qua mẩu chuyện của người đàn bà, Phùng càng thấm thía: không thể đơn giản trong cái nhìn về cuộc đời và con người.

Người đàn bà hàng chài không tồn tại tên , một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu đức hi sinh. Người đàn bà ấy thật đáng sẻ chia cảm thông. Lão đàn ông trước kia là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” nay là một người anh xã độc ác. Ông ta vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thân của tôi. Làm thế nào để đem lại cái phần thiện trong người đàn ông ấy?!Trong một gia đình như gia đình vợ anh xã làng chài, những đứa trẻ như chị Phác, cậu bé Phác lớn lên và sẽ thành người thế nào? Những người nghệ sĩ như Phùng, những nhà quản lí xã hội như Đẩu sẽ làm gì để cuộc sống bớt đi những mảnh đời như vậy?

Cốt truyện của tác phẩm rất sáng tạo và độc đáo. Những tình huống chứa đầy sự nghịch lí: Một trưởng phòng muốn có tờ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” nhưng thực tiễn vẫn có hình ảnh con người , Một người nghệ sĩ chụp được Bức hình tuyệt đẹp thì chính Trong số đó lại chứa những cái xấu ác, Một người đàn bà bị anh xã đánh dã man nhưng không lúc nào muốn từ bỏ lão. Những nghịch lí đó vẫn tồn tại trong cuộc đời như nói lên một triết lí sâu sắc: Cuộc sống không hề đơn giản mà phức tạp, không dễ gì khám phá. Người nghệ sĩ phải có cái nhìn nhiều chiều khi phản ánh hiện thực cuộc sống.

Người kể chuyện là sự hóa thân của tác giả vào nhân vật Phùng đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo. Lời kể trở thành khách quan, chân thực giàu sức thuyết phục. Ngôn ngữ nhân vật thích hợp với tính chất tính cách của từng người:giọng lão đàn ông thô bỉ, lời người đàn bà xót xa cam chịu…Việc sử dụng ngôn ngữ sáng tạo đã góp phần khắc sâu hơn chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:Mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người. Cần một cách nhìn đa dạng nhiều chiều, phát hiện ra thực chất thật sau vẻ đẹp phía bên ngoài của hiện tượng. Đồng thời tác phẩm in đậm phong thái tự sự-triết lí của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

hoàn toàn có thể khẳng định: Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn trước tiên của giai đoạn đổi mới đã đi sâu khám phá thực sự đời sống , dũng cảm thể hiện những góc khuất của cuộc đời ngay trong chính sách xã hội đẹp đẽ của chúng ta. Đúng như lời của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nói: “Nhà văn không tồn tại quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới thực chất con người vào những tầng sâu lịch sử”.

Bài văn mẫu 13

Nguyễn Minh Châu thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của nền văn học ta hiện nay. Sự tinh anh và tài năng ấy trước hết thể hiện ở quy trình đổi mới tư duy nghệ thuật. Trong văn học cách mạng trước năm 1975, thước đo giá trị chủ yếu của nhân cách là sự góp sức, hi sinh cho cách mạng, là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng được thế hiện chủ yếu trong mối quan hệ với kẻ thù, với đồng chí, đồng bào. Sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn trước tiên của giai đoạn đổi mới đã đi sâu khám phá thực sự đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Khi làm cho người đọc ý thức về thực sự, có khả năng nhìn thẳng vào thực sự, phát hiện nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp, chằng chịt, thì văn chương đã ít nhiều đáp ứng được cái nhu cầu nhìn nhận và hoàn thiện nhiều mặt của nhân cách con người. Truyện Chiếc thuyền ngoài xa là phát hiện về đời sống và con người theo đúng hướng đó. Bao nghịch lí đời thường được mở ra: một người trưởng phòng thông minh muốn có tờ lịch “tĩnh vật hoàn toàn”, nhưng thực tiễn không thể tước bỏ được hình ảnh con người; một nghệ sĩ săn được cảnh thuyền và biển thật đẹp thì chính từ cảnh đó lại xuất hiện những cái thật xấu; một người đàn bà bị anh xã hành hạ vô lí nhưng không lúc nào muốn từ bỏ kẻ độc ác ấy; những chiến sĩ nhiệt thành từng chiến đấu thế nào để giải thoát cho một người đàn bà xấu số… Đấy là những minh chứng sinh động cho cách nhìn đa diện của Nguyễn Minh Châu, như chính ông từng khẳng định: “Nhà văn không tồn tại quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới thực chất con người vào những tầng sâu lịch sử”.

Phát hiện thứ nhất của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh đầy thơ mộng. Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, Phùng đã tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh, đã dự tính bố cục, đã “phục kích” mấy buổi sáng đế “chộp được một cảnh thật vừa lòng. Giây phút ấy đã tới, đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra một vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời bấm máy có lẽ anh chỉ có diễm phúc bắt gặp được một lần: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù white color như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. toàn bộ khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới (…), toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp (…), tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ đúng là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo của sự cảm nhận nét đẹp tuyệt . diệu. Hình như trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa trời biển mờ sương, anh ta đã bắt tái ngộ cái tận Thiện, tận Mĩ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở thành thật trong trẻo, tinh khôi bởi nét đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời.

Phát hiện thứ hai của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh lại đầy nghịch lí, nó bất ngờ và trớ trêu như trò đùa quá của cuộc sống. Phùng đã từng có cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình do nét đẹp tuyệt dính của ngoại cảnh vừa mang lại, anh đã từng chiêm nghiệm bản thân nét đẹp đúng là đạo đức, lại chẳng phải là đạo đức, là chân lí của sự hoàn thiện. Anh ta chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ ấy bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác coi việc đánh vợ như một phương cách để giải tỏa những uất ức, khổ đau. Phùng đã từng là người lính cầm súng chiến đấu đề có vẻ đẹp bình yên của thuyền biển mênh mông, anh không thể chịu được khi chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ một cách vô lí và thô bạo. Nhưng anh vẫn chưa kịp xông ra thì thăng Phác, con lão đàn ông, đã kịp tới đế che chở cho người mẹ đáng thương. Chỉ đến lần thứ hai, khi lại phải chứng kiến cảnh ấy, Phùng mới thế hiện được thực chất người lính không thể làm ngơ trước việc bạo hành của cái ác… Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện, ở đó có chánh án Đẩu, bạn chiến đấu cũ của anh. Phùng cay đắng nhận thấy những cái ngang trái, xấu xa, những thảm kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu mà anh dày công chụp được bỗng hiện hình thành khủng khiếp, ghê sợ.

mẩu chuyện của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện là mẩu chuyện về thực sự cuộc đời, nó giúp những người như Phùng và Đẩu hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô lí. Bề ngoài đó là một người đàn bà quá nhẫn nhục, cam chịu, bị anh xã thường xuyên hành hạ, đánh đập thật khốn khó ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, vậy mà vẫn nhất quyết gắn bó với lão đàn ông vũ phu ấy. Chỉ qua những lời giãi bày thật tình của người mẹ đáng thương đó mới thấy nguồn gốc mọi sự chịu đựng, hi sinh của bà là tình thương vô bờ đối với những đứa con: “… dám dàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Phải sống cho con chứ không thể sống cho mình…”. Nếu thiếu sự việc một cách đơn giản, chỉ việc yêu cầu người đàn bà bỏ anh xã là xong. Nhưng nếu nhìn vấn đề một cách thấu suốt sẽ thấy ý nghĩa sâu sắc và xử sự của bà là không thể khác được. Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con chúng tôi nó được ăn no”; “ơ trên thuyền cũng có thể có những lúc vợ anh xã con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ”.

Về nghệ thuật, nét độc đáo trong xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu là cách tạo tình huống mang ý nghĩa sâu sắc khám phá, phát hiện về đời sống. Nếu coi tình huống là sự kiện có ý nghĩa sâu sắc bộc lộ mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, đôi khi tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm, trong cuộc đời con người, thì với Phùng, việc chứng kiến lão đàn ông đánh vợ là một sự kiện như thế. Trước đó, Phùng nhìn đời bằng con mắt của một nghệ sĩ. Anh rung động, say mê trước vẻ đẹp “trời cho” của thuyền biển sớm mai. Chính trong giây phút tâm hồn thăng hoa những cảm xúc lãng mạn nhất, anh bất ngờ chứng kiến đôi vợ anh xã từ con thuyền “thơ mộng” bước xuống, rồi lão đàn ông đánh vợ một cách dã man và vô lí. Tình huống đó được lặp lại một lần nữa, Phùng không chỉ là chứng kiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng mà còn thấy được thái độ, hành động của chị em thằng Phác trước việc hung bạo của cha với mẹ. Từ đó đến cuối truyện, Phùng đã có một cách nhìn đời khác hẳn. Anh thấy rõ những cái ngang trái trong gia đình thuyền chài ấy, hiểu sâu thêm tính cách người đàn bà, chị em thằng Phác, hiểu sâu thêm thực chất người đồng đội của tôi (Đẩu) và hiểu thêm chính mình. Tình huống truyện đã được Nguyễn Minh Châu đưa lên cao trào và ngày càng xoáy sâu hơn nữa để phát hiện tính cách . con người, phát hiện thực sự cuộc đời.

Hơn nữa, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn này cũng cũng đáng để ý. Người kể chuyện ở đây là nhân vật Phùng, hay nói đúng hơn, đó là sự hóa thân của tác giả vào nhân vật Phùng. Việc chọn người kê chuyện như thê đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống của tình huống truyện, lời kể chuyện trở thành khách quan, chân thực, giàu sức thuyết phục. Ngôn ngữ cách nhân vật thích hợp với tính chất tính cách của từng người: giọng điệu lão đàn ông thật thô bỉ, tàn nhẫn với những từ ngữ đầy vẻ tục tằn, hung bạo; những lời của người đàn bà thật dịu dàng và xót xa khi nói với con, thật đớn đau và thấu trải lẽ đời khi nói về thân phận của tôi; những lời của Đẩu ở toà án huyện rõ là giọng điệu của một người tốt bụng, nhiệt thành: việc sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo như thế đã góp phần khắc sâu thêm chủ đề – tư tưởng của truyện ngắn.

Tóm lại, từ mẩu chuyện về một Bức hình nghệ thuật và thực sự cuộc đời đằng sau Bức hình ấy, truyện Chiếc thuyền ngoài xa mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra thực chất sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng, ơ đây là số phận đau đớn của một người phụ nữ, là cảnh ngộ ngang trái trong một gia đình hàng chài hiện dần lên” qua Bức hình tuyệt đẹp về chiếc thuyền trong sương sớm. Từ đó, truyện còn cho thấy rõ mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người.

Bài làm mẫu 14

Căn cứ theo điều Nguyễn Minh Châu lúc sinh thời từng tâm niệm : “không tồn tại một thứ nghề nào mà kết quả công việc lại hoàn toàn có thể cắt nghĩa rõ rệt chân giá trị của người làm ra nó như nghề viết văn” thì hoàn toàn có thể khẳng định rằng những gì ông để lại cho đời đã đảm bảo chắc chắn ông là một tài năng và một nhân cách lớn. Sự nghiệp sáng tác của ông có một vị trí quan trọng trong quy trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới sau năm 1975 và ông rất xứng đáng với lời đánh giá của nhà văn Nguyên Ngọc : “Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng của văn học ta hiện nay”.

Mẫn cảm với nghề, Nguyễn Minh Châu ý thức rất sớm về xu thế tất yếu phải đổi mới văn học, mà trước nhất là đổi mới quan niệm về văn chương, về bản lĩnh và trách nhiệm của nhà văn. Từ năm 1945 đến 1975, văn học Việt Nam có sứ mệnh phục vụ chiến đấu, nó phải trở thành một vũ khí, một “mặt trận”tư tưởng. Yêu cầu dó quy định cách văn học tiếp cận cuộc sống chủ yếu từ góc độ lịch sử – sự kiện. Những vấn đề của xã hội được ưu tiên và được coi như tiêu chuẩn hàng đầu để định giá tác phẩm. Tự nguyện làm một nhà văn – chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu đã góp vào nền văn học kháng chiến những tác phẩm xuất sắc : Cửa sông, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng. Chính trong giai đoạn hào hùng và cam go ấy, nhà văn ghi vào nhật kí : “Hôm nay chúng ta đang chiến đấu vì quyền sống của cả dân tộc, nhưng sẽ đến một ngày chúng ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người, sao cho con người ngày một tốt hơn. Chính cuộc đấu tranh ấy mới là lâu dài”. Hoá ra con người là mối bận tâm thường xuyên của ông. Nhận xét văn học viết trong chiến tranh của chúng ta thường có hạn chế lớn : “sự kiện lấn át con người”, ông cả quyết rằng sẽ đến lúc vãn học “phải viết về con người”, “trước sau con người cũng leo lên trên sự kiện để đòi quyền sống”.

Khi giang sơn hoà bình, Nguyễn Minh Châu có điều kiện để hiện thực hóa những suy tư đầy sáng suốt đó. Ông coi “văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”, còn nhà văn chân chính thì lúc nào cũng “mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống, nhất là tình yêu thương con người”. Tình yêu ấy thôi thúc ông làm một cuộc tự đổi mới lặng lẽ mà quyết liệt. Trong những sáng tác từ sau năm 1975, ngòi bút ông ngày càng nghiêng hẳn về đề tài thế sự, nơi ông hoàn toàn có thể đi sâu vào những vấn đề của cá nhân trong mối quan hệ đời thường đa đoan, phức tạp. Rồi từ đó ông đề xuất quan niệm mới mang nội dung dân chủ và nhân bản sâu sắc về con người.

Hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến quê (1985), khắc ghi bước chuyển vững vàng của Nguyễn Minh Châu. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (viết xong tháng 8 – 1983) in trong tập Bến quê.

Những đổi mới của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn này về cơ bản triệu tập ở cách tiếp cận đời sống và quan niệm về con người. Chọn số phận cá nhân trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn thời hậu chiến làm đối tượng khám phá, nhà văn đã kiên quyết khước từ cái nhìn lí tưởng hoá con người, để hiện tiến hành lên với toàn bộ cái xù xì, góc cạnh của nó. Truyện Hình như không tồn tại bóng dáng bất kỳ một sự kiện chính trị – xã hội nào, chỉ là cuộc sống bế tắc quẩn quanh, thường nhật của một gia đình dân chài vùng đầm phá miền Trung, cách TP Hà Nội hơn sáu trăm cây số. Điều tác giả muốn nhấn mạnh là : tính chất phức tạp, bí hiểm của đời sống không thể nhìn bằng cái nhìn giản đơn, dễ dãi. Ông đã sáng tạo một tình huống thật độc đáo và hấp dẫn nhằm chuyển tải tư tưởng riêng, những phát hiện riêng về cuộc đời và về văn chương.

Vai trò của tình huống luôn được người viết truyện ngắn tôn vinh.Với Nguyễn Minh Châu, “Đôi khi người ta nghĩ ra được một chiếc tình thế xảy ra mẩu chuyện thật hay và thế là coi như xong 1 nửa”. Tình huống đúng là “thứ nước rửa ảnh làm nổi hình nổi sắc nhân vật, làm rõ tư tưởng của nhà văn”.

Chiếc thuyền ngoài xa được triển khai trên hai tình huống chính. Tình huống tự nhận thức là tình huống lớn, bao trùm toàn bộ mẩu chuyện : Nhân vật Phùng được cử tới vùng biển xa xôi kia để chụp ảnh bổ sung cho bộ ảnh lịch chuyên đề mười hai tháng về biển. Trưởng phòng khi giao nhiệm vụ nói với Phùng : “không tồn tại người. Hoàn toàn toàn cầu tĩnh vật”. Nhờ đó mà Phùng có thời cơ chứng kiến một tình huống khác hết sức bất ngờ và khó tin : một người phụ nữ làng chài thường xuyên bị anh xã đánh đập dã man, vẫn cắn răng cam chịu, từ chối lời khuyên đầy thiện chí của vị thẩm phán toà án huyện, kiên quyết không rời bỏ người anh xã vũ phu. Cách xử sự lạ lùng của người đàn bà gây thắc mắc cho cả Phùng (phóng viên báo chí ảnh) lẩn Đẩu (thẩm phán). Kết cục là họ “vỡ ra” được nhận thức mới, đúng hơn, một nhận thức làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ quen thuộc của họ (kiểu tình huống này cũng xuất hiện ở nhiều truyện khác của Nguyễn Minh Châu như Bức tranh, Bến quê, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,…).

Do tình huống đề ra là tình huống tự nhận thức nên cốt truyện được xây dựng trên nguyên tắc luận đề : sự kiện, sự việc chỉ là phông nền cho quy trình vận động tâm lí dẫn đến bước ngoặt tư tưởng.

Chủ thể của quy trình nhận thức ở đây là nhân vật Phùng, người kể chuyện xưng tôi (một hoá thân của Nguyễn Minh Châu ?). Phùng có phẩm chất đáng quý của một nghệ sĩ giàu tâm huyết, tâm hồn tinh ý, thiết tha với nét đẹp. Cảnh thiên nhiên vùng đầm phá buổi sáng, “phẳng lặng và tươi mát” ; cảnh đẩy thuyền ra khơi sôi nổi, náo nhiệt và khoẻ khoắn, cảnh thuyền cá trở về lúc bình minh rực rỡ; cánh biển đông huyền bí, sâu thẳm… đã đem lại những rung động ” tuyệt đỉnh”, khiến anh vui sướng, hạnh phúc đến mức “tưởng như chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Đằng sau những câu văn khá du dương, hào phóng mĩ từ trong đoạn này, ngầm án một nụ cười hài hước, chế giễu nhẹ nhàng lối tư duy lãng mạn của nhiều nghệ sĩ (đó cũng hoàn toàn có thể là nụ cười tự trào đầy thâm thuý của Nguyễn Minh Châu). Tự tin và tự mãn, Phùng đã vội thu vào ống kính “nét đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”. Anh ngỡ rằng mình sáng suốt hơn người trưởng phòng, biết gắn nét đẹp thiên nhiên với hình ảnh con người, biết tìm ra sự hài hoà giữa chất thơ của trời biển với vẻ “náo nhiệt” tưng bừng của lao động. Nhưng anh đã lầm. Bước ngoặt trong nhận thức người nghệ sĩ được tác giả khắc họa thật sắc sảo qua sự đối lập gay gắt giữa “cái – thấy – phút – trước” với “cái – thấy – phút – sau”. Mấy cụm từ giản dị mà đầy sức nén của chân lí : “tôi chắc mẩm” (niềm tin có sẵn), “ngay lúc ấy” (đột biến), “bất giác tôi nghe” (hoang mang trước thực sự).

Phùng đã hai lần chứng kiến cảnh người đàn bà bị anh xã đánh đập tàn nhẫn trên bờ biển (lần thứ hai, thậm chí anh còn nhảy vào can thiệp và bị thương) rồi lại chứng kiến cách chị ta ứng xử tại tòa án của chánh án Đẩu. Trong suy nghĩ của Phùng và Đẩu, người đàn bà khốn khổ đáng thương không nên cam chịu bị hành hạ, chắc bà ta sẽ vui vẻ chấp thuận bỏ anh xã để được giải thoát khỏi đòn roi. Ngờ đâu cả thiện chí lẫn luật pháp đều bất lực : người đàn bà khi mới nghe vị thẩm phán thuyết phục li hôn anh xã đã “chắp tay lạy vái lia lịa : – Con lạy quý toà…”. Trước cảnh này, Phùng ngạc nhiên cao độ và cảm thấy bức bối : “gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở thành ngột ngạt quá” vì “không thể nào hiểu được” thái độ cam chịu lạ lùng ấy. Ở đây ra mắt một sự va quệt gay gắt giữa những điều đã mặc định về con người với thực tiễn sống động của hiện thực. Phùng và Đẩu đều tin rằng mình đúng : họ đã bảo vệ bà ta bằng cả thiện chí lẫn luật pháp. Họ đinh ninh anh xã bà ta là kẻ xấu xa, bỏ lão là giải pháp tốt nhất. Chỉ có điều người đàn bà lam lũ ấy giống như một bí mật mà họ vẫn chưa lúc nào biết. Sự thay đổi hoàn toàn tư thế và lối xưng hô, những câu nói chất phác mà “thấu tình đạt lí” của bà làm cả Phùng lẫn Đẩu bồn chồn “những lời ấy, nhất là đấy lại là lời một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi…”. Một lần nữa cách nhìn đầy định kiến và đơn giản “va” phải cái trí khôn của đời sống. Người đàn bà thất học lại có tư cách giảng giải cho hai vị trí thức về những nghịch lí mà con người phải chấp thuận khi nó bị cầm tù trong hoàn cảnh đói nghèo cùng cực. Hoá ra cuộc sống vốn đầy nghịch lí mà cái nhìn chủ quan duy ý chí không lúc nào thấy hết. pháp lý công minh, lòng tốt vô tư đều vẫn chưa đủ hoá giải những nghịch lí ấy. Nguyễn Minh Châu thật sâu sắc khi phát hiện sự cam chịu của người đàn bà là một phẩm chất, là nét đẹp đáng giá nhất, vì nó thiết yếu nhất cho những người dân hàng chài cơ cực kia khi xã hội vẫn chưa tồn tại một giải pháp thực sự tác dụng để thay đổi số phận họ.

Người đàn bà thất học mà không tăm tối. Thái độ nhẫn nhịn là kết quả của bao tình cảm vị tha, thánh thiện : “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình như ở trên đất được !…”. Vậy là người đàn bà đã chủ động nhận về phần mình mọi đau đớn, phiền não để đảm bảo cho sự tồn tại của cái gia đình đông con sống dựa vào nghề sông nước vốn đầy rẫy bất trắc. Tình yêu thương như một bản năng mãnh liệt ngàn đời cứu người phụ nữ ở mẩu chuyện này phát lộ dưới hình thức bất ngờ nhất và cũng cảm động nhất. Nó cho bà ta can đám để chịu đựng những trận đòn tàn bạo của anh xã (khi bị anh xã đánh bà không hé kêu khóc hay chống cự), nhưng lại khiến bà “đau đớn”, “xấu hổ, nhục nhã” khi biết mình vô tình làm tổn thương tâm hồn đứa con thơ dại (bà “mếu máo” gọi tên Phác, “ôm chầm lấy nó”, “chắp tay vái lấy vái để” đứa con, bà cũng đã khóc ở tòa án khi nghe Phùng nhắc đến thằng Phác).

Nguyễn Minh Châu đã di chuyển điểm nhìn từ Phùng sang Đẩu rồi bất ngờ “trao” cho người đàn bà và chính cái người mẹ hàng chài thô kệch, mặt rỗ xấu xí, đầy vẻ lam lũ, cam chịu ấy lại là người sắc sảo, hiểu đời hơn hẳn hai vị trí thức. Chánh án Đẩu và phóng viên báo chí nhiếp ảnh Phùng đã từng kinh qua chiến tranh, đi nhiều thấy nhiều mà hoá ra vẫn nông cạn, hời hợt trước hiện thực khắc nghiệt của gia đình bà và những người dân chài khác. Cuộc sống được Đẩu nhìn bằng sự rành rẽ, công minh của luật pháp, Phùng nhìn bằng con mắt nghệ sĩ. Cả hai đều có sẵn lòng tốt và thiện chí với cuộc đời. Chỉ có điều những anh quen tư duy một chiều về cuộc đời (chẳng hạn, câu hỏi “như lạc đề” của Phùng : “Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không ?” hay cái thắc mắc rất ngây thơ của Đẩu : “Vậy sao không lên bờ mà ở ?”) nên chỉ thấy được những gì là tất yếu, hợp lí. Người đàn bà trái lại, từ số phận mình đã buộc những anh phải đặt đời sống và cái nhìn nhiều chiều để nhận thấy vô vàn nghịch lí : bãi xe tăng bị bốc cháy (chứng tích về chiến công anh hùng trong chiến đấu) là nơi người đàn bà thường xuyên bị đánh đập, còn những đứa trẻ thì đói khát và thất học (thảm kịch đói nghèo vẫn chưa cách gì chấm hết), thiếu nữ mảnh dẻ duyên dáng “như nàng tiên cá” lại “được tách ra từ da thịt một người đàn bà hàng chài xấu xí và đau khổ”, người mẹ yêu con, cố che giấu thực sự để tránh cho con khỏi đau lòng, không ngờ lại làm nó tức giận đến mù quáng,… Chính những lời giãi bày chất phác, dè dặt của người đàn bà đã dần dần “mở mắt” cho Phùng và Đẩu. Tất nhiên việc thay đổi cách nhìn, cách nghĩ quen thuộc không dễ dàng gì. Làm sao hai vị cựu chiến binh của một thời đánh giặc lừng lẫy hoàn toàn có thể thấm thía được ngay bao nhiêu nông nỗi yêu thương, xa xót, đắng cay, hờn tủi, bao nhiêu thấu hiểu độ lượng trong giọng nói đứt quãng của bà ta : “Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu […]. Giá mà lão uống rượu […] thì tôi còn đỡ khổ […]. Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão […] đưa tôi lên bờ mà đánh […]”. Phùng và Đẩu đã “cùng một lúc thốt lên” : “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được”. Có lẽ họ chỉ thực sự “tâm phục khẩu phục” khi phát hiện cái sức mạnh nội tâm kì lạ nâng đỡ người đàn bà : “Lần trước tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt bừng sáng lên như một nụ cười – vả lại, ở trên thuyền cũng có thể có những lúc vợ anh xã con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ […]. Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no.

Nguyễn Minh Châu đã thật “cao thâm” khi làm cuộc hoán đổi vị thế giữa Phùng, Đẩu với người đàn bà – cuộc hoán đổi để xác lập quan niệm dân chủ về con người. Tính cách đầy xích míc của người phụ nữ hàng chài thể hiện tư tưởng nhân bản sâu sắc của nhà văn, hiện thực hóa ý định của ông khi sáng tác truyện ngắn này : “Con người sống trong xã hội, sống giữa xã hội đã từng tồn tại từ lâu và còn tồn tại mãi nhưng họ phải chịu biết bao đau đớn để cho người và người được bên nhau, gắn bó với nhau trong cái quần thể xã hội đầy xích míc trên chiếc thuyền nọ… Không phải lúc nào con người cũng đấu tranh với nhau mà nhiều khi phải chịu đựng lẫn nhau. Những con người lao động và lương thiện hết đời này sang đời khác đã chịu biết bao nhiêu điều đau khổ bất công để sống nuôi nấng con cái, làm cho đời sống bất diệt”. Tình yêu thương con người ở Nguyễn Minh Châu lúc nào cũng nặng trĩu những suy tư se xót nên tình cảm nhân đạo của ông thường nghiêng về phía những thân phận bé nhỏ, nhiều đau khổ và ông đặc biệt nhạy cảm với những vẻ đẹp thầm lặng mà vững bền – những vẻ đẹp mang khuôn mặt phụ nữ (như Liên trong Bến quê, Thai trong cỏ lau,…).

Nguyễn Minh Châu có những câu văn giản dị như lời nói thường, không một chút “làm văn” mà đầy dư ba. Câu văn tiếp trong tương lai là một ví dụ – đấy là câu Phùng hỏi người đàn bà : “Cả đời chị có một lúc nào thật vui không ?”. Vâng! Với những kiếp đàn bà nhọc nhằn như thế mà nói tới thú vui liệu có xa xỉ quá không ? Nhưng mấy ai đó đã hiểu sự tận tụy hi sinh cho anh xã con đúng là thú vui lớn nhất đối với họ. Nghe người đàn bà hàng chài nói về thú vui, Đẩu như “bừng ngộ” : “một chiếc gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ”. Đến đây người kể chuyện (Phùng) đã nhập hẳn vào dòng tâm tư của Đẩu, sự giác ngộ của Đẩu cũng đúng là sự giác ngộ của anh. Hành trình tự nhận thức của cả hai luôn có sự song trùng. Nhưng qua Phùng – người phóng viên báo chí nhiếp ảnh, Nguyễn Minh Châu còn tiến hành một cuộc “tự vấn” của văn chương : giữa cuộc sống cơm áo nhiều hệ luỵ, văn chương lựa cách ứng xử nào ? “Chiếc thuyền ngoài xa” rất khác với nó khi đã cập bờ. Nghệ thuật tiếp cận hiện thực thế nào để không bỏ quên số phận con người ? Nhan đề truyện rõ ràng là một ẩn dụ sâu sắc (nó gợi nhớ những nhan đề như Mảnh trăng cuối rừng, Bến quê, Bức tranh, cỏ lau,…), một câu hỏi bỏ ngỏ cho những ai muốn chọn văn chương nghệ thuật để bày tỏ tình yêu con người. Câu hỏi này ám ảnh tới mức dù Bức hình lịch năm đó của Phùng chỉ có hai màu đen trắng mà sau này mỗi lần ngắm nó Phùng cứ thấy hiện về cái màn sương màu hồng (lãng mạn) như đối lập với dáng đi chậm rãi, vững chắc của người đàn bà trên cát (hiện thực). Một lời nhắc nhở hay một niềm tin sâu xa vào sứ mệnh cao quý của người nghệ sĩ ? Chắc chắn rằng, với Nguyễn Minh Châu, với truyện ngắn này, nghệ sĩ không tồn tại quyền nhìn sự vật một cách giản đơn, dễ dãi mà phải đào xới vào những tầng sâu đời sống để làm lộ ra những gì có khả năng đánh thức tình yêu thương con người.

Tình huống truyện độc đáo, phối kết hợp với nhân vật tư tưởng và nhân vật tính cách – số phận đã giúp nhà văn giãi bày nỗi do dự, trăn trở về tính phức tạp đa chiều của cuộc sống, về bao nhọc nhằn còn đè nặng lên số phận con người, về mối quan hệ máu thịt giữa nghệ thuật và hiện thực. Khát vọng đổi mới văn chương bằng việc đi tìm một quan niệm chân thực hơn, hợp lí hơn về con người dựa trên nền tảng triết học nhân bản qua giọng văn thấm thìa chiêm nghiệm, qua cái nhìn dân chủ hoá của người trần thuật,… trở thành nhu cầu tự vấn mạnh mẽ, trung thực, đủ sức khẳng định tư cách “người mở đường” cho công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Minh Châu.

Bài văn mẫu 15

Có những mẩu chuyện đi vào lòng người một cách sâu sắc. Có những mẩu chuyện lấy đi nước mắt của người đọc. Lại có những mẩu chuyện khiến lòng người hừng hực khí thế. Và tác phẩm “chiếc thuyền ngoài xa” của tác giả Nguyễn Minh Châu cũng không ngoại lệ. Tác phẩm để lại trong lòng người đọc nỗi ám ảnh về người đàn bà hàng chài.

Trước tiên ta cùng tìm hiểu đôi nét về tác giả Nguyễn Minh Châu. Trước năm 1975 ông là ngòi bút sử thi có thiên hướng lãng mạn. Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX sáng tác của ông chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lý nhân sinh. Ông được nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét “là một trong những người mở đường cho tài năng” tác phẩm “chiếc thuyền ngoài xa” là tác phẩm tiêu biểu cho thời kỳ đổi mới hướng nội khai thác sâu sắc trước số phận cá nhân trong đời thường. Tác phẩm được viết sau năm 1975 lúc đầu in trong tập Bến quê sau đó được in trong tập truyện ngắn cùng tên (1985).

Mở đầu tác phẩm nói về người nghệ sĩ Phùng được giao nhiệm vụ chụp Bức hình để làm lịch tháng bảy. Đó đúng là cơ duyên đưa anh đến với làng chài ấy đưa anh đến với những chiêm nghiệm mà có lẽ cả đời anh cũng không thể quên. Sau nhiều ngày ở làng chài nghệ sĩ Phùng vẫn vẫn chưa chụp được một bộ ảnh vừa lòng. cho tới buổi sáng bình minh hôm đó anh đứng dưới chiếc xe tăng đã hỏng nhìn về phía biển. Một chiếc thuyền rẽ sóng đến ngay khoảnh khắc đó người nghệ sĩ đã reo hò rồi bồn chồn. Bức tranh thiên nhiên bằng mực tàu hiện ra trước mắt anh. Khung cảnh bờ biển mờ hơi sương trắng pha chút màu hồng hồng của tia nắng chiếu vào. Chiếc thuyền như trong mẩu chuyện cổ tích bước ra “toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Người nghệ sỹ trở thành bồn chồn, đắm say trước bức tranh thiên nhiên ấy. Anh lấy máy ảnh ra nháy liên tục hy vọng sẽ lưu giữ được khoảnh khắc đẹp đẽ ấy khoảnh khắc trắng ngần trong tâm hồn.

Nghệ sỹ Phùng vui vẻ vì sau cùng anh cũng đã có được bộ ảnh vừa lòng. Nhưng sau thú vui mừng ấy anh lại nhận được điều ngạc nhiên lớn hơn. Từ chiếc thuyền ấy một người phụ nữ xấu xí và một người đàn ông tướng tá thô kệch có đôi vai rộng như vai gấu bước xuống. Gã cúi gằm mặt cái lưng khum khum đôi mắt hằn đỏ như một con mãnh thú đang tức giận. Hai người cứ bước đi cho tới khi dừng lại gã đàn ông bỏ thắt lưng ra quất từng quất đầy đau đớn lên người phụ nữ. Người phụ nữ im lặng không oán than không kêu đau toàn bộ chỉ có im lặng và cam chịu.

Nghệ sỹ Phùng bị biến cố này làm cho bất ngờ anh đứng bất động tại chỗ. Đến khi anh lấy lại tinh thần xông ra thì nhìn thấy thằng Phát. Cái thằng bé hiền lành ngây thơ ấy đang chạy về phía hai người. Anh bàng hoàng nhận thấy thằng bé Phát không hề là cậu bé hiền lành mà anh biết trong đôi mắt nó là sự thù hận giống y như khuôn mặt của gã đàn ông ấy. Thằng bé lao ra giằng lấy chiếc thắt lưng từ tay gã bảo vệ người đàn bà khỏi đòn roi. Gã đàn ông không cam chịu nhưng lại không giành được chiếc thắt lưng gã trở thành bực tức tát hai cái lên mặt thằng bé. khuôn mặt thằng bé ửng đỏ hiện lên dấu bàn tay của gã. Từ đầu đến cuối toàn bộ chỉ ra mắt trong câm lặng và bạo lực. Người phụ nữ lúc này như mới cảm nhận được nỗi đau mụ khóc nước mắt rơi không ngừng. Mụ ôm thằng Phát vào lòng sự thương tiếc đau khổ ẩn hiện trong đáy mắt. Rồi mụ buông thằng Phát ra bước theo gã đàn ông lên chiếc thuyền.

Cùng một buổi sáng nghệ sỹ Phùng giống như đi từ mùa xuân đến mùa đông. thuở đầu là mùa xuân đẹp đẽ ấm cúng lúc sau là cái lạnh buốt thấu tâm can của mùa đông. Bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ đến vậy nhưng ẩn sâu trong nó lại là bức tranh trái ngược. Một bức tranh phi thẩm mỹ, phi nhân tính được phác họa bởi hình ảnh người đàn bà xấu xí, người đàn ông thô kệch. Người đàn ông đánh người phụ nữ là vợ mình, đánh thằng bé là con trai của tôi. Nghịch lý và ngang trái cái vẻ đẹp trời cho ấy lại không thể nào nói lên bức tranh xấu xí đằng sau. Liệu đây có phải là sự gửi gắm của tác giả đến với chúng ta cuộc đời hãy còn nhiều nghịch lý mắt thấy vẫn chưa tồn tại thể là toàn bộ tai nghe vẫn chưa chắc là toàn bộ. Và biết đâu đấy đằng sau nó là cả một mẩu chuyện.

Tác giả còn gửi gắm thông điệp không thể đánh giá con người bằng vẻ bề ngoài mà phải đi sâu vào phát hiện thực chất bên trong. Thông điệp đó được gửi gắm bằng phương pháp mà tác giả nói về người đàn bà hàng chài. Người đàn bà hàng chài hiện lên qua vài câu mô tả vô danh, không nghề nghiệp, không nhan sắc toàn bộ về người đàn bà ấy là số không là sự nhạt nhòa. Bà sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng vì bị đậu mùa từ nhỏ khuôn mặt xấu xí không ai lấy. Bà lại phải lòng gã thanh niên nghèo cục tính hiền lành đúng là gã vũ phu lúc này rồi theo chân gã. Tài sản của bà là trên dưới mười đứa con những ngày đói biển động bọn họ ăn xương rồng luộc chấm muối qua ngày. Một cuộc đời cơ cực lam lũ hiện lên trong mắt người đọc. Vất vả khổ cực đến thế là cùng. Nhưng không tận cùng của nỗi đau vẫn chưa phải ở đây tận cùng của nỗi đau đối với người đàn bà ấy là việc phải bỏ anh xã mình cái gã vũ phu.

Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nghĩ điều đó thật điên rồ một người cứ suốt ngày hành hung “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” làm sao mà sống nổi. Nhưng người đàn bà hàng chài lại nắm vững là không thể bỏ gã. Trên dưới mười đứa con cần gã một mình bà không thể gồng gánh nuôi chúng. Một mình bà và đàn con nhỏ không thể vượt qua được sóng to gió lớn của biển khơi nơi nguy hiểm rình rập. Và chính cái lúc nguy hiểm hiểm nguy ấy trên chiếc thuyền cần một người đàn ông trèo lái đưa con thuyền vượt qua bão tố. Hơn ai khác anh xã của bà mới hoàn toàn có thể làm việc đó cho dù gã có độc ác gã có vũ phu thì gã vẫn là người gồng gánh cả gia đình.

Sự cam chịu của bà không chỉ là thể hiện ở việc bà im lặng chịu đòn roi mà còn ở chi tiết bà “đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. Bà muốn chỉnh trang lại mái tóc đã rối bù hoặc có lẽ là muốn gãi đầu nhưng rồi bà lại buông tay. Bà buông tay vì lẽ gì đây? Bà đang suy nghĩ về điều gì? Có lẽ và cũng hoàn toàn có thể bà đang nghĩ vén tóc lên rồi nó sẽ lại rối thà cứ để như vậy. Hay là bà nghĩ vén lọn tóc lên bà cũng chẳng thôi xấu xí, thôi nhếch nhác, thôi đói khổ. Bà buông tay, bà buông xuôi toàn bộ, buông xuôi chính mình, buông xuôi cho số phận. Bà cam chịu, cam chịu cuộc sống lam lũ, cam chịu đòn roi, cam chịu người đàn ông vũ phu.

Dù bị đánh nhưng bà vẫn rất thương anh xã mình cảm thông cho nỗi vất vả của anh xã tự nhận về phần mình toàn bộ tội lỗi “giá như tôi đẻ ít hơn thì đã bớt khổ” trong lòng bà người anh xã của tôi thực chất là một người hiền lành ít nói nhưng vì cuộc đời xô đẩy vì khổ quá lại chẳng có chỗ giải tỏa nên gã mới chọn bà là nơi trút giận. Khi đánh người đàn bà hàng chài gã đã nói “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Đó là sự tóm gọn của đau khổ trong gã. Gã một người đàn ông sức rộng vai dài chẳng thể cho vợ con một đời ấm no. Gã hận thù chính mình hận thù toàn bộ. Cuộc đời gã sao lại khổ thế này? Một đàn con nheo nhóc, một người vợ tảo tần là gánh nặng của gã. Gã không thể khóc cũng không thể kể lể gã chỉ hoàn toàn có thể đánh “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh”. Người đàn bà hàng chài nắm vững điều đó bà thương anh xã mình tha thứ cho anh xã mình mọi lỗi lầm. Bên trong cái vẻ ngoài xấu xí rụt rè ấy là người phụ nữ giàu tình thương, giàu lòng vị tha hiểu lẽ đời sâu sắc.

Trong chuỗi đau khổ liên miên không dứt ấy bà cũng có thể có thú vui là những phút giây vui vẻ hạnh phúc bên con. Đó đúng là ánh sáng khiến bà vượt qua toàn bộ. thú vui, niềm động lực của bà là cả nhà quây quần bên mâm cơm sung túc sau ngày bội thu. Là nụ cười tươi rạng rỡ của con khi được ăn bữa cơm no đủ với bà đó là hạnh phúc. Bà yêu con mình mong muốn những điều đẹp đẽ đến với con. Bà gửi thằng Phát về nhà ngoại mong muốn cuộc đời nó sẽ được học hành đầy đủ rồi sau này sẽ không đi vào bước chân của cha mẹ nó. Bà xin anh xã mình lên bờ rồi mới đánh mình vì sợ sẽ tác động đến con. Khi xuống thuyền bà “ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng”. Bà nhìn để yên tâm rằng con cái mình không nhìn thấy cảnh cha nó đánh mẹ nó. Với những tâm hồn non nớt sẽ để hằn trong đấy những vết thương tâm hồn không thể nào phai nhòa không thể nào chữa lành. Qua đó nói lên người đàn bà hàng chài là một người mẹ giàu đức hy sinh yêu thương con bằng cả trái tim.

Tác giả còn để cho chúng ta thấy được cái nhìn của những nhân vật trong tác phẩm. Đó là cái nhìn của chánh án Đẩu của nghệ sĩ Phùng về người đàn bà hàng chài về người anh xã của bà. Chánh án Đẩu là người tốt nhưng lại vẫn chưa hiểu đời sâu sắc. Ông khuyên người đàn bà hàng chài bỏ gã vũ phu ấy đi. Nhưng lại chẳng nghĩ thấu đáo đến việc bỏ gã bà và những con sẽ sống ra sao? Sau khi nghe người đàn bà hàng chài kể ông đã vỡ lẽ ra nhiều điều. Cuộc sống luôn nhiều ngã rẽ dù đúng dù sai dù sướng dù khổ mỗi người đều bị buộc chặt trong một sợi dây links vô hình nào đó. Người trong cuộc mới là người nắm vững nhất muốn hiểu lòng dân giúp đỡ dân thì phải đặt mình vào vị trí của dân. Còn người nghệ sĩ Phùng lại hiểu ra một điều. Nghệ thuật phải thật sự nói lên hiện thực của đời sống thì mới là nghệ thuật thật sự. Nghệ thuật vị nhân sinh chứ không phải nghệ thuật vị nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính không thể tách rời cuộc sống. Nghệ thuật chân chính phải là cuộc đời và vì cuộc đời.

Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã thành công trong việc tạo tình huống truyện độc đáo có ý nghĩa sâu sắc khám phá phát hiện về đời sống. Ngôn ngữ trong tác phẩm sinh động thích hợp với tính cách nhân vật lời văn giản dị mà sâu sắc đa nghĩa. Góp phần khắc họa cũng như nói lên chiêm nghiệm sâu lắng của tác giả về nghệ thuật và cuộc đời. Đồng thời là hồi chuông báo động về tình trạng bạo hành gia đình và hậu quả khôn lường của nó. Khi mà có lần Phát đã cầm cả con dao găm đi gặp bố mình. Có lẽ mỗi chúng ta cần một khoảng lặng để suy ngẫm về cuộc đời về nhân sinh hãy đưa ra lựa chọn đúng đắn, đừng vội vàng, đừng khiến mình trở thành người đàn bà hàng chài hay là gã vũ phu.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *