Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong Số phận con người để thấy được Xô-cô-lốp là người đàn ông đã chịu bao giông tố khắc nghiệt của cuộc đời đổ ập lên số phận nhưng vẫn kiên định vượt lên số phận.

Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp

Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp gồm dàn ý chi tiết kèm theo 4 bài văn mẫu hay nhất. Qua đó giúp những bạn lớp 12 có thêm nhiều tư liệu xem thêm, trau dồi vốn từ củng cố kỹ năng viết văn ngày một hay hơn.

Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp hay nhất

  • Dàn ý phân tích nhân vật Xô-cô-lốp
  • Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 1
  • Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 2
  • Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 3
  • Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 4

Dàn ý phân tích nhân vật Xô-cô-lốp

I. Mở bài:

  • Trong đời có những người gặp số phận may mắn. Lại có những người gặp số phận nghiệt ngã. Nhân vật Xô-cô-lốp trong tác phẩm Số phận con người của M. Sô-lô-khốp là con người đã gặp một số phận cực kì nghiệt ngã.
  • Xong qua số phận cực kì nghiệt ngã đó của nhân vật, tác giả muốn làm nổi trội phẩm chất của con người Nga trong thời đại Xô Viết.

II. Thân bài:

1. Cuộc đời Xô-cô-lốp

Đó là cuộc đời của một người lao động bình thường của nước Nga, sinh vào năm 1900. Cuộc đời rất có thể chia làm ba giai đoạn.

a. Trước chiến tranh

  • Sinh trong một gia đình mà bố, mẹ, em gái đều chết đói năm 1922, Xô-cô-lốp trôi dạt, làm thuê nên sống sót.
  • Anh lấy vợ là một cô nàng lớn lên trong trại mồ côi. Hai vợ ông xã lao động cật lực mười năm, xây dựng được một cơ nghiệp nho nhỏ, vợ ông xã, con cái sống khá êm ấm.

b. Trong chiến tranh

  • Chiến tranh nổ ra, anh phải ra mặt trận. Suýt chết trong chiến đấu, anh bị bắt làm tù binh, bị hành hạ, ngược đãi cực kì tàn tệ trong trại tù.
  • Xô-cô-lốp dũng cảm trốn thoát khỏi thân phận tù binh. Song cả gia đình (vợ, con) đều bị bọn địch giết hại, trừ người con lớn là một sĩ quan Hùng quân.
  • Gần ngày thành công, anh lại được tin con anh hi sinh. “Tôi đã chôn trên đất người, đất Đức, thú vui sướng và niềm kỳ vọng của tôi!”.

c. Sau chiến tranh

– tổ quốc thành công và hòa bình. Người đàn ông sống côi cút một mình với nghề lái xe tải. Anh nhận một đứa trẻ lang thang làm con nuôi.

2. Tính cách của Xô-cô-lốp

a. Đức tính kiên định

  • Đứng vững, không gục ngã trước những thử thách và tai ương cực kì tàn khốc của kẻ thù, của chiến tranh.
  • những thử thách và tai hoạ về vật chất: sự đày đọa ghê gớm trong những trại tù binh lao động khổ sai, sự đe dọa của cái chết. Căng thẳng nhất là cuộc gặp gỡ giữa Xô-cô-lốp và tên trại trưởng Muy-le.
  • những thử thách và tai ương về tinh thần: vợ con bị bọn giặc thảm sát. Niềm an ủi và niềm hy vọng duy nhất và sau cuối là đứa con lớn đầy sức sống và triển vọng, lại hi sinh trước ngày thành công.

=> Trong những thử thách và tai ương đó, những cái về tinh thần còn nặng nề và ghê gớm hơn những cái về thể chất. Toàn là những thử thách và tai ương vượt sức chịu đựng của một con người. Thế nhưng, con người đó vẫn không bị gục ngã, dù mang cả một ngọn núi đau thương trên vai.

b. Tấm lòng nhân hậu

  • Một con người chịu số phận bi thảm đến thế ấy, tưởng rằng nếu sống được cũng trở thành một kẻ tàn nhẫn hay hững hờ với mọi sự trên đời. Thế nhưng, cảm động thay, tấm lòng nhân ái, nhân hậu, tức là tình thương yêu con người vẫn còn đấy đấy nguyên vẹn trong trái tim. Thậm chí càng nhiều đau khổ, con người đó càng giàu, càng sâu tình thương yêu.
  • Bên cạnh đức tính kiên định, tấm lòng nhân hậu của Xô-cô-lốp thể hiện ở việc nhận chú bé mồ côi Va-ni-a làm con nuôi, là nét tính cách đẹp đẽ nhất của con người này.

III. Kết bài:

  • Số phận của Xô-cô-lốp đại diện cho số phận của những người lính Nga nói riêng và của người nhân dân Nga nói chung sau chiến tranh
  • Tính cách và phẩm chất của nhân vật Xô-cô-lốp là của nước Nga song lại có ý nghĩa sâu sắc toàn nhân loại.

Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 1

Đến với văn học Nga, chắc rằng ai cũng biết Leptonxtoi hay Puskin và không thể không nhắc Sô-lô-khốp. Ông là một trong những nhà văn lớn nhất của Nga thế kỷ XX. phong thái nghệ thuật của ông là thể hiện một chiếc nhìn toàn diện, chân thực. Tác phẩm viết về cuộc sống và con người Nga trong những biến chuyển của lịch sử. Tác phẩm “Số phận con người” được viết năm 1957. Lúc này chiến tranh đã lùi xa 22 năm, cuộc sống đã hồi sinh nhưng những mất mát đau thương vẫn triển khai trăn trở day dứt con người. Mục đích sáng tác của tác phẩm là lên án chiến tranh, ngợi ca vẻ đẹp con người Nga kiên định nhân hậu. Và nhân vật thể hiện rõ hai Điều này là Xô-cô-lốp.

Bản thân Xô-cô-lốp đã hai lần bị thương, hai năm bị đày đọa trong trại triệu tập của phát xít Đức. Hoàn cảnh gia đình bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề. Vợ và hai con gái anh đã bị bom phát xít giết hại năm 1942. Đứa con trai duy nhất của anh trong ngày thành công bị bắn chết. Nhà cửa bị phá nát tan tành. Chiến tranh đã cướp đi toàn bộ vợ con, gia đình và niềm hy vọng sau cuối của anh. Ngày chôn trên đất người, đất Đức, thú vui sướng và niềm hy vọng sau cuối của anh “trong tôi như có gì đó vỡ tung ra”, “như người mất hồn”. Anh rơi vào nỗi đau cùng cực, anh tìm tới rượu dù biết nó là món nguy hại. Những ám ảnh kinh hoàng về gia đình, về vợ con như một vết thương không cầm máu được. Anh phải chịu nhiều xấu số sau chiến tranh là thế, nhưng trong anh vẫn là tính cách Nga kiên định ấy. Khi nhìn thấy bé Vania, Xô-cô-lốp không cầm được nước mắt, anh đã quyết định nhận bé Vania làm con. Anh đã làm những việc yêu thương và chăm sóc bé Vania. Từ cắt tóc, tắm rửa, may quần áo. toàn bộ đều rất vụng về nhưng chứa đầy tình yêu thương. “Sau bữa trưa, tôi đưa nó tới hiệu cắt tóc, rồi về nhà đặt ngồi vào chậu giặt, tắm rửa xong rồi bọc nó vào tấm khăn trải giường sạch”. “Tôi mua cho nó một chiếc quần dạ, một sơ mi, đôi dép và một chiếc mũ lưỡi trai bằng sợi. Tất nhiên là toàn bộ mọi thứ đều không vừa và chất lượng cũng kém”. Nhưng nuôi Vania cũng gặp nhiều khó khăn. “Chỉ một mình tôi thì cần gì đâu? Một mẩu bánh mì, một củ hành với tí muối, thế là đủ no cho một ngày của đời lính. Nhưng thêm nó thì khác: khi thì phải mua sữa cho nó, khi thì phải luộc quả trứng, không tồn tại đồ ăn nóng cho nó là không xong”. Rồi anh lại đâm phải con bò, bị tịch thu bằng lái. Khó khăn càng khó khăn thêm. Nhưng dù vậy, họ vẫn là chỗ dựa tinh thần cho nhau.

Khi Vania hỏi về chiếc áo bành tô da, anh đã nói dối để cốt yên lòng chú bé. Xô-cô-lốp lần đầu được ngủ một giấc yên lành sau bao nhiêu năm. Điều kì lạ là “ban ngày lúc nào tôi cũng trấn tĩnh được, không hở ra một tiếng thở dài, một lời than vãn, nhưng đêm hôm thức giấc thì gối ướt sũng nước mắt”. Sức mạnh của tình yêu thương thật tuyệt diệu, nó sưởi ấm trái tim cô đơn, đem lại thú vui sống cho con người. Tác giả đã khám phá ra quy luật của tâm lý. Chỉ có tình yêu thương mới chữa lành vết thương trong trái tim con người. Có bé Vania nhưng anh vẫn chưa hoàn toàn quên được chuyện buồn trong quá khứ. Kí ức về chiến tranh luôn ám ảnh vò xé trái tim và tàn phá cơ thể: “hầu như đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy những người thân quá cố”, “quả tim tôi đã rệu rã lắm rồi”. Việc nuôi dưỡng bé Vania đã cho thấy lòng nhân hậu của Xô-cô-lốp. Đã trải qua nhiều mất mát đau thương nhưng anh vẫn kiên định vượt qua. không những thế, ở anh còn có một nghị lực phi thường. Anh cố gắng sắp xếp công việc để dành thời gian chăm sóc bé Vania. Anh giấu thực sự về chiếc áo bành tô để bé Vania được yên tâm. Anh nén nỗi đau để trấn tĩnh, đem lại thú vui cho bé Vania. Anh sẵn sàng cuốc bộ khắp nước Nga để chờ cho Vania lớn lên. Tóm lại, nhân vật Xô-cô-lốp trong chiến tranh dũng cảm phi thường, sau chiến tranh nhân hậu, nghị lực. Đây đúng là vẻ đẹp tâm hồn, tính cách Nga.

Với kết cấu truyện lồng truyện, bút pháp trữ tình hiện thực nghiêm ngặt. Tác giả đã phơi bày thực sự tàn khốc của chiến tranh qua số phận những nhân vật đặc biệt là nhân vật Xô-cô-lốp. Xô-cô-lốp đúng là hiện thân của tính cách Nga kiên định, nhân hậu, nghị lực phi thường. Anh là nhân vật thể hiện rõ nhất tư tưởng và nội dung của tác phẩm này.

Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 2

Sô-lô-khốp (1905 – 1984) thuộc nhóm không nhiều những nhà văn mà khi nhắc đến, người ta không cần nói nhiều hay không nói về những phẩm chất thiết yếu của một ngòi bút bậc thầy như tình yêu văn chương, sự trau dồi nghề nghiệp, say mê và nỗ lực lao động, tinh thần vượt khó. Ông được đứng vào hàng ngũ những nhà văn xuôi lớn nhất thế kỉ XX. Ông để lại những tác phẩm đồ sộ và còn trường tồn theo thời gian tới tận ngày nay người đọc vẫn nhớ rõ. Một trong số đó là truyện “Số phận con người” được viết năm 1957. nổi trội trong truyện là hình tượng nhân vật Xô-cô-lốp – một con người nhân hậu, kiên định.

Thật vậy, truyện kể về nhân vật Xô-cô-lốp. Khi chiến tranh bùng nổ anh ra trận để lại quê nhà vợ và 3 con. Sau một năm chiến đấu hai lần anh bị thương nhẹ vào tay và chân. tiếp do đó anh bị bắt làm tù binh bị đày đọa suốt 2 năm trời trong những trại triệu tập của phát xít Đức. Lao dịch nhục hình đói rét tử thần đêm ngày đe dọa. Năm 1944 giặc bị thua to trên mặt trận Xô-Đức bọn phát xít bắt tù binh làm lái xe. Nhân thời điểm đó Xô-cô-lốp đã bắt sống một tên trung tá Đức lái xe chạy thoát về phía Hồng quân. Lúc này anh mới biết tin về vợ và 2 con gái anh đã bị bom giặc giết hại. Anatôli cậu con trai giỏi toán của anh nay trở thành đại uý pháo binh Hồng quân. Hai cha con cùng tham gia chiến dịch công phá Berlin sào huyệt của Hitler. Đúng ngày 9/5/1945 ngày thành công một tên thiện xạ Đức đã bắn lén giết chết Anatôli niềm hy vọng sau cuối của anh.

Chiến tranh kết thúc Xô-cô-lốp được giải ngũ nhưng anh không trở về Vôrônegiơ quê nữa. Một đồng đội bị thương đã giải ngũ có lần mời anh về nhà chơi Xô-cô-lốp nhớ ra và tìm tới Uriupinxco. Anh xin được làm lái xe chở hàng hóa về những huyện và chở lúa mì về thành phố. Mỗi lần đưa xe về thành phố anh lại tạt vào cửa hiệu giải khát uống một ly rượu lử người. Anh đã gặp bé Vania và nhận bé làm con nuôi. Từ đó anh đã tìm lại được cuộc sống của tớ.

Nhân vật Xô-cô-lốp được nhà văn mô tả rất chân thực và bi thương với số phận rất éo le. Bản thân anh bị thương hai lần, hai năm bị đày đọa trong trại tù binh Đức. Anh mất cả vợ lẫn đứa con trai mà anh hết mực thương yêu. Chính tình cảnh đó, sau khi ra tù anh trở thành một con người khác. Nghe tin sốc, anh như lạc vào toàn cầu đau thương ai oán. Anh không thể người thân, không thể gia đình, quê, không thể nhà. Vì vậy, anh đã tìm tới chén rượu để cho vơi bớt đi nỗi nhớ, vơi bớt đi nỗi đau đang gào thét giằng xé trong tim can anh. Vì bị đẩy vào cảnh bế tắc nên anh cũng suýt rơi vào con đường của kẻ nghiện rượu không tồn tại tiền đồ. Tuy rơi vào hoàn cảnh khó khăn ấy nhưng anh vẫn giữ tính cách Nga kiên định.

Nhà văn đã khéo léo sắp xếp cho cuộc gặp gỡ giữa đứa con cưng của tớ với nhân vật bé Va-ni-a. Ông đã khéo léo để chính cuộc gặp gỡ đó đã mở ra một trang sử tươi đẹp về cuộc đời mới, cuộc sống mới cho đứa con mình làm lại từ đầu. Gặp bé Va-ni-a “đầu tóc rối bù”, “rách rưới bươm xơ mướp”, nhất là khi thấy cặp mắt sáng của em “như những ngôi sao sáng sáng ngời sau trận mưa đêm”. Sau khi nghe về hoàn cảnh đáng thương của bé Va-ni-a, Sô-cô-lốp cảm tình cho tình cảnh của chú bé nên anh quyết định nhận nó làm con nuôi. Khi nghe bé Va-ni-a nghẹn ngào hỏi “Thế chú là ai”, Xô-cô-lốp reply “Là bố của con”. rất có thể thấy rằng mặc dù đây là một quyết định táo bạo bộc phát nhất thời song nó lại xuất phát tình tình yêu, sự cảm thông san sẻ cho nỗi xấu số của nhau giữa những người cùng cảnh ngộ. Đó là tình yêu giữa người với người. Ở họ trỗi dậy một sự ham muốn muốn bảo phủ, chở che cho người cùng cảnh ngộ với mình.

Anh đã đưa bé Va-ni-a về nhà, cả hai người bạn của anh đều rất vui vẻ. Họ như nhìn thấy một sự đồng cảm đến không ngờ. Từ khi nhận bé làm con nuôi, anh tìm mọi cách bù đắp tình cảm cho nó, chăm sóc nó tuy vụng về nhưng rất đáng để yêu và chân thực. Từ cắt tóc, tắm rửa, may quần áo.. “Sau bữa trưa, tôi đưa nó tới hiệu cắt tóc rồi về nhà đặt ngồi vào chậu giặt, tắm rửa xong rồi bọc nó vào tấm khăn trải giường sạch” và “Tôi mua cho nó một chiếc quần dạ, một sơ mi, đôi dép và mũ lưỡi trai bằng sợi”. Đó là tình yêu của người cha dành trọn vẹn cho đứa con. Bé Va-ni-a như một liều thuốc giúp anh hồi sinh vượt qua sự cô đơn để tiếp tục sống trên cõi đời này.

Tuy nhiên, việc nhận bé làm con nuôi cũng khiến cho Sô-cô-lốp có những khó khăn nhất định. Anh vừa phải làm bố, làm mẹ chăm sóc bé. Anh không muốn làm tổn thương trái tim mỏng manh của bé. Khi ăn uống, với Sô-cô-lốp trước lẻ bóng “chỉ một mình tôi thì cần gì đâu nhưng thêm nó thì khác”. Anh chăm sóc nó khi thì phải mua sữa, khi thì luộc quả trứng không tồn tại đồ ăn cho Va-ni-a là không xong. Rồi có lần anh anh lại đâm phải con bò và bị tịch thu bằng lái. Cuộc sống ngày một khó khăn và gian truân hơn nhiều. Khó khăn ông xã chất khó khăn. Nhưng dù vậy, bé Va-ni-a cũng là đứa con anh hết mực yêu thương. Hai người sống nương tựa vào nhau, là chỗ dựa tinh thần để cùng nhau vượt qua khó khăn thử thách trước mắt. Anh cũng đã ngủ ngon giấc hơn. Điều đó chứng tỏ sức mạnh của tình yêu thương thật kì diệu, nó sưởi ấm trái tim đang cô đơn kia, nó nhen nhóm ngọn lửa yêu thương cho con người, nó vun đắp tình cảm, nó sẻ chia thú vui.

Nhà văn cũng đã thành công khi khắc họa diễn biến tâm lí nhân vật Xô-cô-lốp. Mặc dù có bé Va-ni-a ở bên song anh vẫn không thể quên đi những kí ức đau buồn mà chiến tranh mang lại. Anh không thể quên sự ra đi của vợ và con trai. Kí ức ấy luôn ám ảnh, giày xéo tâm can anh: “Hầu như đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy những người thân quá cố”. Mặc dù vậy anh vẫn cố gắng kiên định vượt qua. Anh vẫn một mực yêu thương, chăm sóc cho bé Va-ni-a. Anh giấu thực sự về chiếc áo bành tô để bé Va-ni-a được yên tâm. Anh đang chịu đựng và vượt qua số phận bằng tình yêu thương của người cha đối với người con. Chỉ có như vậy mới giúp anh sống tiếp ở thực tại, cố gắng ở thực tại nhiều hơn nữa.

Tóm lại, rất có thể thấy, nhà văn đã khéo léo để cho cuộc gặp gỡ giữa những con người xấu số trở thành điểm sáng là chỗ dựa cho họ cùng nhau sống tiếp. “Số phận con người” là một truyện đặc sắc. Nhà văn đã triệu tập khám phá nỗi đau xấu số của con người sau chiến tranh, tiêu biểu là nhân vật Xô-cô-lốp. Bên cạnh đó tác giả còn ngụ ý phê phán chiến tranh tàn nhẫn đã cướp đi biết bao nhiêu sinh mệnh, gây bao nhiêu đau thương mất mát cho gia đình, xã hội. Qua truyện ta cũng thấy được cái tài của nhà văn khi ông đã mô tả tâm lí nhân vật rất đặc sắc xem lời văn nhẹ nhàng, lôi cuốn. Sô-cô-lốp đúng là hiện thân của người Nga kiên định bất khuất.

Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 3

Tác phẩm là lời tự sự của nhân vật trung tâm – anh lính hồng quân Xô-cô-lốp, người đàn ông đã chịu bao giông tố khắc nghiệt của cuộc đời đổ ập lên số phận.

Đó là cuộc đời gắn liền với cùng 1 trang sử bi tráng hào hùng của nhân dân Nga, với chính sách Xô Viết đã tạo thành phẩm chất của những con người Nga kiên định.

M.Sô-lô-khốp đã dựng lên chân dung một con người Nga bình thường nhất, một người xô viết chân chính. Số phận ấy tiêu biểu cho bao người con ưu tú đã viết nên trang sử thời đại hào hùng của tổ quốc Liên Xô cũ.

Cuộc sống hiện lên trần trụi như nó vốn có – không khoa trương hào nhoáng, không thảm kịch hoá mà cứ đều đều như giọng kể của người đàn ông Nga có cái họ bình thường như bao người Nga: Xô-cô-lốp. Nhưng trong số phận anh có sức nặng của nỗi đau dân tộc Nga qua những thời kỳ khốc liệt nhất. Không tránh né thực sự – đó là phẩm chất hàng đầu của những cây bút Nga – xô viết mà M.Sô-lô-khốp đúng là một tấm gương. thực sự đó không phải được kể bằng giọng lạnh lùng thản nhiên mà còn hằn nguyên nỗi đau trong giọng văn thấm thía, trong những ám ảnh kí ức hằn sâu trong tâm trí của người cựu binh xô viết – đúng là phản chiếu một mảng hiện thực rộng lớn và xuyên suốt những chặng đường của nhân dân Nga.

Trước hết là ký ức những ngày nội chiến, khi chính quyền xô viết non trẻ phải đối mặt với lũ bạch vệ, thổ phỉ và can thiệp. Người đọc rất có thể nhận thấy những dấu ấn quen thuộc làm nên tên tuổi của M.Sô-lô-khốp trong Sông Đông êm đềm. Nạn đói, cuộc sống cùng cực không quật ngã nổi ý chí của người dân xô viết. Xô-cô-lốp từng trải qua cuộc đời làm thuê, từng chứng kiến gia đình gục chết trong cái đói, nhưng chính sự tàn khốc ấy là một sự lý giải vì sao anh trở thành chiến sĩ hồng quân, vì sao anh lại có một hạnh phúc từ đau thương xấu số. Đó là hạnh phúc của những người nghèo khổ được xây lên từ xấu số để họ khẳng định tư thế làm chủ cuộc đời.

Có lẽ kí ức nhân loại mãi mãi không phai mờ bao ám ảnh khủng khiếp của Chiến tranh toàn cầu lần thứ II. Nhưng nhà văn không theo cách thông thường để ca tụng vào những đóng góp xương máu của hơn hai mươi triệu người xô viết làm nên thắng lợi của trận đánh tranh vệ quốc vĩ đại. thảm kịch chiến tranh hiện hữu ngay trong từng số phận, từng gia đình. Sức hủy hoại của nó khiến cho Xô-cô-lốp mất vợ và hai con; bé Vania mồ côi cả cha lẫn mẹ. Mất mát là điều không tránh khỏi nhưng với người trong cuộc còn kinh khủng hơn rất nhiều, khi sức ám ảnh của nó vẫn trở về trong những giấc ngủ nặng nề, để Xô-cô-lốp mỗi lần tỉnh giấc lại đầm đìa nước mắt. Nhưng vào thời điểm đối mặt quyết liệt với kẻ thù, nước mắt không thể rơi! Chỉ rất có thể là ánh nhìn rực lửa căm hờn và khinh bỉ với kẻ thù, với những tên phản bội. Anh đã sống đúng với tư cách người lính trong cả khi “chiến bại”, bị bắt làm tù binh. Cảm hứng về trận đánh tranh của M.Sô-lô-khốp có phần gần gũi với Alếchxây Tônxtôi với “Tính cách Nga”, với “Người xô viết chúng tôi”… Nhưng người đọc hiểu đó đúng là lúc con người đang chiến đấu vì danh dự dân tộc, vì những niềm hy vọng không tắt về tương lai. Xô-cô-lốp đã là người thành công, ngẩng cao đầu trong trại triệu tập của kẻ thù, mưu trí dũng cảm trở về đội ngũ, chiến đấu bằng toàn bộ lòng căm thù sục sôi với kẻ đã hủy hoại hạnh phúc gia đình, và cả “niềm hy vọng sau cuối” – người con trai đã thành đại úy pháo binh Xô-cô-lốp. Trớ trêu thay, vào trong ngày cờ đỏ thắm trên nóc nhà Quốc hội Đức , anh đã phải tiễn đưa con mình. Dẫu biết sự hy sinh ấy là anh hùng, là rất cần thiết, nhưng quả thật đó là một cú đập phũ phàng của định mệnh khiến bất kể ai yếu lòng cũng rất có thể quỵ ngã. Có lẽ đó cũng là những trang viết nhắc nhở cho chúng ta nhiều nhất về ý nghĩa sâu sắc tàn khốc của chiến tranh, vinh quang và cay đắng, hạnh phúc và xấu số, thú vui chung và nỗi đau riêng để từ đó suy ngẫm và hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa sâu sắc của từ “hy sinh”.

Thế nhưng tuyệt nhiên ta không nhận thấy tâm trạng của những con người – nhân dân Nga trở về sau chiến tranh lại nặng nề bi thảm như của “thế hệ vứt đi” trở về sau Đại chiến I ở Mỹ hay châu Âu. Bởi lẽ hy sinh sẽ là vô ích nếu như sự sống sẽ tê liệt sau bao mất mát. Bởi thế, Xô-cô-lốp đã sống, làm việc như bao người lính xô viết trở về sau chiến trận. Nỗi đau lắng vào trong và chỉ thật sự hiện hữu khi Xô-cô-lốp tìm quên trong men rượu. Áp lực đời thường và hậu quả chiến tranh quá nặng nề tưởng chừng rất có thể làm cho con người gục ngã. Sự tình cờ, ngỡ như ngẫu nhiên mà tất yếu đã gắn chặt cuộc đời Xô-cô-lốp với bé Vania. Chú bé Vania – đôi mắt đen lay láy, cuộc sống vất vưởng là một hình tượng nghệ thuật rất có thể làm mềm những trái tim sắt đá nhất. Chú bé đúng là hiện thân của thế hệ tương lai nước Nga, là vẻ đẹp của sự thơ ngây thánh thiện cần phải che chở, bảo bọc. Cuộc gặp gỡ của hai con người ấy là tất yếu. không những cảm động vì khoảnh khắc thì thầm của Xô-cô-lốp với bé Vania: “Ta là bố của con”, lúc nhận bố con cũng là lúc người đọc chứng kiến sự quay về của những giọt nước mắt ở con người tưởng như trái tim đã khô héo vì đau khổ. Nước mắt – hạnh phúc và xót xa cứ đan quyện vào nhau, thấm vào lòng toàn bộ mọi người.

Ngỡ rằng hạnh phúc đã thật sự quay về, ngỡ rằng từ đây đầy ắp tiếng cười và những tiếng ríu rít như chim của bé Vania, nhưng kí ức vẫn hiện về đấy ám ảnh. Người đọc phải chứng kiến những lời nói dối – nhưng lạ thay đó lại là lời đẹp hơn trăm lần thực sự. Bởi sự đồng cảm số phận và tình thương yêu đã gắn chặt cuộc đời hai bố con – một người đang cần nén chặt nỗi đau quá khứ và một người rất cần phải bảo đảm tương lai đẹp đẽ. Vậy mà định mệnh lại trêu cợt để cho bố con Xô-cô-lốp lại tiếp tục hành trình giữa đời thường với bao thử thách đón chờ phía trước.

Số phận con người là mẩu chuyện kể chân thực về một con người bình thường. Nhưng cuộc sống bao dồn đẩy sóng gió đã tôi luyện cho anh một phẩm chất kiên định, một tình thương yêu bao la. khuôn mặt người đàn ông ấy đã sắt lại vì đau khổ, nhưng trái tim tổn thương ấy vẫn đập những nhịp thương yêu nồng nàn với con người. Nhà văn đã lên tiếng thay nhân vật ở cuối tác phẩm, bằng toàn bộ niềm xúc động sâu xa và lòng cảm phục vô hạn trước nhân cách một Con Người chân chính. Bức thông điệp của nhà văn giúp ta nhận thấy rõ hơn chân dung của nhân dân Nga, vẻ đẹp của tâm hồn Nga và sức mạnh của con người vượt lên bao thảm kịch xấu số. Đó là sự khẳng định tuyệt đối của nhà văn thể hiện niềm tin tưởng vào Con người Nhân dân và tương lai của tổ quốc. Nỗi buồn kết lại tác phẩm lại khiến ta nhận thấy tầm vóc vĩ đại của tổ quốc và con người Nga quả cảm, kiên định, nhân hậu.

Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp – Mẫu 4

“Đất vỡ hoang”, “Sông Đông êm đềm”,…và “Số phận con người” đã đem về vinh quang cho Sô-lô-khốp. Truyện “Số phận con người” xuất hiện trên báo “thực sự” vào cuối năm 1956. Hình ảnh nhân vật Xô-cô-lốp để lại trong lòng ta bao ám ảnh về số phận con người đầy xấu số thương đau. Qua số phận nhân vật này, ta cảm nhận sâu sắc nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ thật của nó, biểu dương khí phách anh hùng của người lính Xô viết, khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị, nhân ái – được thể hiện bằng một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo của nhà văn Sô-lô-khốp.

Đọc “Số phận con người”, ta cực kì xúc động trước trang đời đầy nước mắt và máu của nhân vật Xô-cô-lốp. Năm 1941 phát xít Đức bất ngờ tiến công Liên Xô. Cùng với hàng triệu người Xô viết cầm vũ khí đứng lên, Xô-cô-lốp đã ra trận. Anh nếm trải những gian truân, thất bại buổi đầu. Hai lần bị thương vào chân vào tay. Rồi anh bị giặc bắt, bị đày đọa suốt hai năm trong nhiều trại triệu tập. Sống bằng túp lều bều lõng bõng, bánh mì lẫn mạt cưa, áo quần xơ xác, lao động khổ sai, người tù da bọc xương. Hàng trăm tù binh bỏ mạng. Tù binh Nga bị bọn phát xít đánh bằng thanh sắt, thanh gỗ, thanh củi, đánh bằng báng súng, đấm bằng tay, đạp bằng chân cực kì dã man. Bộ chỉ huy trại dẫm vào mặt vào mũi tù binh cho hộc máu ra; chúng gọi đó là trò “phòng bệnh cúm”. Chúng “sáng tạo” ra mọi cách cực kỳ man rợ để đánh đập, bán giết tù binh. Đêm và ngày, lúc lao động khổ sai và lúc bị nhốt sau hàng rào dây thép gai, Xô-cô-lốp cũng như những tù binh khác bị cái chết bủa vây, bị tử thần rình rập.

Sau 5 năm chiến tranh, hơn 20 triệu người Xô viết bị chết, hàng trăm thành phố, hàng vạn làng mạc bị bom đạn phát xít trở thành tro tàn. Gia đình Xô-cô-lốp gánh chịu bao mất mát đau thương. Vợ và 2 con gái bị giặc ném bom giết hại. Con trai, đại úy pháo binh A-na-tô-ni, niềm hy vọng sau cuối, đã ngã xuống tại Béc-lin trong ngày thành công bởi viên đạn bắn lén của một tên thiện xạ phát xít! Nỗi đau thương khủng khiếp làm cho Xô-cô-lốp “như người mất hồn”. Chiến tranh kết thúc, anh được giải ngũ nhưng không muốn về lại Vô-rô-ne-giơ quê vì đâu còn gia đình nữa! Bé Va-ni-a cũng là hiện thân cho thảm họa chiến tranh. Cha “chết ở mặt trận”. “Mẹ bị bom chết trên tàu hỏa khi mẹ con cháu đang đi tàu”. Bé cũng không biết, không nhớ từ đâu đến. Bà con thân thuộc “không thể ai cả”. Và chỉ biết “bạ đâu ngủ đó, ai cho gì ăn nấy!”. Áo quần em thì “rách rưới bươm xơ mướp”; “mặt mũi bê hết nước dưa hấu, lem luốc bụi bặm, bẩn như ma lem ”…

Hình ảnh bé Va-ni-a cũng như cuộc đời của Xô-cô-lốp được tác giả mô tả một cách chân thực, cảm động, thể hiện nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó. Cái giá của thành công mà mọi dân tộc cũng như nhân dân Liên Xô trong chiến tranh toàn cầu thứ 2 giành được là cực kì khủng khiếp. Chỉ còn sót lại một phần ba số binh sĩ ra trận trở về, trong số đó có nhiều người trên mình mang đầy thương tật. Sức khỏe sa sút, hết sạch. Khi chiến tranh đã đi qua, một năm sau đó, Xô-cô-lốp cảm thấy quả tim mình “đã rệu rã lắm rồi”. Nhiều khi “tự nhiên nó nhói lên, thắt lại giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi”. Nhưng cái đau khổ nhất mà bão tố chiến tranh đã gieo rắc cho con người không những là mất mát, tang thương, điêu tàn… mà còn là những vết thương lòng rỉ máu, những ám ảnh kinh hoàng còn mãi trong kí ức, cứ siết chặt tâm hồn người thời hậu chiến! Bé Va-ni-a vốn hoạt bát có những lúc lại “lặng thinh, tư lự”, có những lúc lại “thở dài”. Cái áo bành tô da của bố ngày nào cứ bám riết lấy tâm hồn em như một ám ảnh không nguôi! Còn Xô-cô-lốp thì nỗi đau như vô tận “không ở lâu mãi một chỗ được”, nỗi buồn không lúc nào nguôi, “hai bố con cứ cuốc bộ khắp nước Nga”…Hầu như đêm nào anh cũng chiêm bao “thấy những người thân thuộc đã quá cố”, gặp vợ con sau hàng rào dây thép gai,…”ban ngày trấn tĩnh được, không hở ra một tiếng thở dài, một lời than vãn nhưng đêm hôm thì gối ướt sũng nước mắt…”. Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a trở thành “côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tổ chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…”.

Nhân vật Xô-cô- lốp là một con người Nga chân chính, tiêu biểu cho khí phách anh hùng của người lính Xô Viết trong trận đánh vệ quốc vĩ đại. Vốn là một nông dân rồi làm thợ mộc, lái xe. Một gia đình ổn định êm ấm: một vợ, ba con. Anh đã ra trận như hàng triệu công dân với ý thức “Tổ quốc hay là chết”. Hai lần bị thương vào chân và tay; vết thương lành, anh lại cầm súng đánh giặc; rồi bị bắt làm tù binh, lao động trong mưa, nắng, tuyết; bị đánh bằng báng súng, bằng thanh sắt, bằng gốc. Áo quần tả tơi, bánh mì lẫn mạt cưa, lưng bát súp lõng bõng. Anh đã đứng vững trước mọi thử thách ác liệt. Kiên quyết trừ khử tên phản bội đốn mạt! Hiên ngang trước mũi súng tên hung thần Muyn-le, chỉ huy trại triệu tập. Với đôi mắt bình thản, anh đã nhìn thẳng vào họng súng lục tên phát xít. Tự kiềm chế đói khát khi đứng trước bàn tiệc của lũ giặc. Đàng hoàng uống rượu, không những uống một cốc mà còn uống nữa để mừng cái chết của tớ chứ không phải để mừng thành công quân xâm lược! Khí phách lẫm liệt của Xô-cô-lốp đã làm cho tên phát xít khát máu ngạc nhiên, khâm phục nói:

“Mày là một thằng lính Nga chân chính. Tao cũng là lính và tao trọng những địch thủ có khí tiết. Tao sẽ không bắn mày nữa”. Tầm vóc của Xô-cô-lốp, của người lính Nga trong máu lửa được mô tả một cách chân thực, làm cho truyện “Số phận con người” mang vẻ đẹp một “tiểu anh hùng ca”.

Qua nhân vật Xô-cô-lốp, tác giả khám phá ra chiều sâu tính cách Nga bình dị và nhân ái. Sau chiến tranh, anh vẫn nhớ hoài cái giây phút từ biệt vợ để ra trận, anh đẩy I-ri-na, khi chị cứ níu lấy anh, không thả… Bình dị trước biến cố trọng đại khi lịch sử đưa số phận anh lên “điểm tựa” thử thách! Lửa chiến tranh đã tắt hơn một năm rồi, mà lòng Xô-cô-lốp mãi không nguôi đau. Anh đã tìm tới rượu, “uống một ly rượu lử người”, anh đã “quá say mê món nguy hại ấy”. Anh muốn quên đi bao mất mát đau thương và cô đơn…

Đang sống lặng lẽ trong thảm kịch, tưởng không tồn tại lối thoát. Nhưng rồi tình cảm người cha, tình thương đồng loại đã thức dậy, làm cho vết thương lòng rỉ máu bấy nay như được mọc lên một lớp da non. Gặp bé Va-ni-a “đầu tóc rối bù, rách rưới bươm xơ mướp” sống bơ vơ nơi hiệu giải khát, “bạ đâu ngủ đó… ai cho gì ăn nấy”, nhất là khi anh thấy cặp mắt của em “như những ngôi sao sáng sáng ngời sau mưa”, Xô-cô-lốp thấy “thích nó” và “nhớ nó”, cố cho xe chạy thật nhanh để được về “gặp nó”. Anh đã quyết định: “không thể cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con!”. Một quyết định đầy nhân ái. Anh đã cứu bé Va-ni-a và anh đã tự cứu mình! Như có một phép thần biến cải: “ngay lúc đó tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhõm và bừng sáng lên!”. Câu nói khẽ của Xô-cô-lốp; “là bố của con!” khi nghe bé Va-ni-a nghẹn ngào hỏi: “thế chú là ai? ”, một câu nói tưởng là bình dị nhưng đầy nước mắt, chứa đựng cả một biển trời thương mến mênh mông! Trước những cái hôn vào má, vào môi, vào trán, trước những cử chỉ yêu thương và tiếng nói ríu rít, líu lo của bé Va-ni-a: “bố yêu của con ơi!…Con chờ mãi mong được gặp bố…”, Xô-cô-lốp cực kì xúc động: “Mắt tôi thì mờ đi, cả người cũng run lên, hai bàn tay lẩy bẩy…”.

Xô-cô-lốp đã nhận được bé Va-ni-a làm con. Anh đã tắm rửa, đưa bé đi cắt tóc, may quần áo mới, săn sóc em. Hai linh hồn đau khổ tựa vào nhau làm cho nỗi mất mát, đau thương sau chiến tranh được dịu lại. Giấc ngủ được yên lành hơn: “Lần trước tiên, sau bao nhiêu năm tôi được ngủ một giấc yên lành”. Còn bé Va-ni-a thì rúc vào nách bố nuôi “như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ…”. Hạnh phúc là san sẻ. Xô-cô-lốp lòng vui không tài nào tả xiết, đêm đêm thức dậy đánh diêm ngắm nhìn bé Va-ni-a ngủ ngon lành. Đời anh đã có một sự thay đổi kỳ diệu: “trái tim đã suy kiệt, đã chai sạn vì đau khổ, nay trở thành êm dịu hơn”.

Vết thương lòng đâu dễ nguôi. Vì thế mà Xô-cô-lốp phải cõng đứa con nuôi bé nhỏ đi khắp nước Nga. Chí đến một lúc nào đó, bé Va-ni-a lớn lên vào học một trường ổn định thì Xô-cô-lốp “mới rất có thể ở yên một chỗ”. Anh đang chịu đựng và vượt qua số phận bằng tình thương của người bố đối với đứa con.

Cuộc gặp bất chợt với “hai con người côi cút” và mẩu chuyện đau lòng của họ đã để lại trong lòng tác giả bao nỗi buồn thấm thía, nhưng Sô-lô-khốp vẫn tin vào dũng khí và lòng nhân ái của người Nga, vẫn tin vào tương lai, dù cho bão tố chiến tranh có thổi bạt họ tới những miền xa lạ: “Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên định sẽ đứng vững được và sống bên bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ rất có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường, nếu như Tổ quốc kêu gọi”.

Truyện “Số phận con người” có kết cấu “truyện lồng trong truyện” – đã tô đậm những đau khổ, những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Xô-cô-lốp, khắc họa đậm nét tính cách và tâm hồn Nga, đem về cho người đọc bao xúc động thấm thía về số phận con người trong chiến tranh và thời hậu chiến.

Với những chi tiết, tình tiết rất sống, rất điển hình và chân thực, tác giả đã mô tả bộ mặt thật của chiến tranh, ca tụng người lao động bình thường trong cuộc đời, anh binh nhì trong máu lửa, người cha trong cuộc sống phức tạp, nhiều khó khăn thời kỳ sau chiến tranh. Qua nhân vật Xô-cô-lốp, người đọc cảm nhận được những ý tưởng sâu sắc mà Sô-lô-khốp gửi gắm qua kiệt tác này: Với lòng dũng cảm mà con người vượt qua những thử thách chiến tranh; với lòng nhân ái rất có thể làm dịu bớt buồn đau mà chiến tranh reo rắc, để lại. Đoạn trữ tình ngoại đề làm cho cảm hứng nhân đạo thêm lung linh chói sáng.

Nhân dân Việt Nam vừa trải qua 30 năm chiến tranh. Hình ảnh Xô-cô-lốp rất gần gũi với mỗi chúng ta. Nhân vật này rất sống, rất đáng để thương nhưng cực kì cao đẹp xứng đáng được mọi tình nhân mến, cảm phục. Khát vọng hòa bình, được sống yên vui trong ấm no hạnh phúc và tình thương là khát vọng đẹp muôn đời của nhân loại.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *