Dàn ý chi tiết tình huống truyện Vợ nhặt của Kim Lân gồm 3 mẫu dàn ý chi tiết, đầy đủ nhất. Qua đó giúp những bạn có thêm nhiều tư liệu xem thêm, nhanh gọn biết cách xây dựng dàn ý để viết bài văn phân tích hay, hoàn chỉnh.

trải qua tình huống nhặt vợ đầy đặc biệt, tác giả Kim Lân đã tái hiện được không khí đói khát, chết chóc của nạn đói nhưng từ cái nền đói khát đó tác giả đã làm nổi trội lên ánh sáng của tình người, làm bộc lộ những phẩm chất đẹp đẽ ở những người dân nghèo khổ. Vậy tiếp sau này là nội dung chi tiết, mời những bạn cùng theo dõi tại đây.

Dàn ý chi tiết tình huống truyện Vợ nhặt

  • Dàn ý phân tích tình huống truyện Vợ nhặt
  • Dàn ý chi tiết tình huống truyện Vợ nhặt
  • Dàn ý tình huống truyện Vợ nhặt

Dàn ý phân tích tình huống truyện Vợ nhặt

a) Mở bài

  • Giới thiệu tác giả và tác phẩm
  • Giới thiệu và đánh giá về tình huống truyện trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.

b) Thân bài

* Khái niệm về tình huống truyện

  • Tình huống truyện là diễn biến của sự việc, sự phức tạp của tình tiết; là cái éo le, nghịch lí ở đời. Sự việc, mẩu truyện trong tác phẩm “xảy ra như thế mà ta cứ ngỡ không phải thế”.
  • Tình huống càng lạ bao nhiêu thì truyện càng hay, hấp dẫn bấy nhiêu.

* Tình huống truyện độc đáo trong “Vợ nhặt”

– Đó đúng là việc anh cu Tràng “nhặt” được vợ được xem là một tình huống đầy kịch tính, xưa nay vẫn chưa từng có; vừa lạ lại vừa éo le mà Kim Lân đã phát hiện và thể hiện rất hay và lạ.

– Lạ:

+ Người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí lại có vợ theo:

  • Xấu xí
  • Tính cách có phần hơi dở hơi
  • Nghèo, dân ngụ cư

-> Ở Tràng quy tụ đầy đủ những yếu tố để khó, thậm chí không lấy được vợ.

+ Giữa lúc đói khát, nuôi thân còn chẳng xong vậy mà Tràng lại dám “đèo bòng”, “rước cái của nợ đời ấy về”.

+ Tràng lấy được vợ, nhặt được vợ âu cũng chỉ qua hai lần gặp tình cờ, chỉ với mấy câu nửa đùa nửa thật vậy mà người đàn bà đã theo Tràng về

-> Cái công việc mà xưa nay người ta vẫn cho là khó lại cực kì tình cờ, dễ dàng đối với Tràng.

– Éo le:

+ Tràng lấy vợ là việc được hưởng cái hạnh phúc lớn nhất của một đời người giữa cảnh “tối sầm lại vì đói khát”, giữa cái lúc mà cái chết và sự sống ranh giới mong manh, tưởng như âm – dương không tồn tại sự cách biệt.

-> Chen vào hạnh phúc là nỗi lo chạy trốn cái đói, nỗi lo níu kéo sự sống.

+ Duyên cớ để đưa họ đến với nhau cũng thật buồn lòng: đó là cái đói. Ở đây, mấy bát bánh đúc thay cho trầu cau dẫn cưới. Nếu không vì cái đói đưa đẩy thì Tràng cũng khó lòng lấy được vợ

-> thực sự đáng buồn.

* Phản ứng của mọi người trước sự việc kiện Tràng có vợ

– Những người dân trong xóm ngụ cư:

  • “Người trong xóm lạ lắm”, họ “đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán” -> Ngạc nhiên tột độ.
  • Sự kiện lạ lùng ấy mang về một “cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối” của họ, làm những khuôn mặt “hốc hác, u tối” bỗng dưng “rạng rỡ hẳn lên”.
  • Họ “cười rung rúc” rồi có người thở dài.
  • toàn bộ cùng “nín lặng” khi có người nói “Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”

– Bản thân Tràng:

  • Mọi chuyện nhanh gọn quá đến mức chính Tràng – người trong cuộc cũng cảm thấy ngạc nhiên.
  • Nhìn thị ngồi giữa nhà mà Tràng “vẫn còn đấy đấy ngờ ngợ như không phải thế”

– Bà cụ Tứ – mẹ Tràng:

+ cực kì ngạc nhiên trước thái độ vồn vã, khác thường của đứa con trai

+ Bà “hấp háy hay con mắt nhìn Tràng” rồi do dự hỏi Tràng “Có việc gì thế vậy?”

+ Ngạc nhiên khi nhìn thấy người đàn bà trong nhà:

  • Bà “đứng sững lại”
  • Trong đầu bà cụ hiện lên một loạt những câu hỏi: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?”, “sao lại chào mình bằng u?”…

=> do dự, ngạc nhiên.

  • Khi đã làm rõ cơ sự bà lão “cúi đầu nín lặng”, thương xót cho số kiếp đứa con mình.
  • Bà cụ Tứ cảm thấy tủi thân, xót xa vì vẫn chưa làm tròn bổn phận làm cha mẹ “người ta dựng vợ gả ông xã cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này, còn mình thì…” -> Độc thoại nội tâm thể hiện tâm lí nhân vật.
  • Sau đó là “mừng lòng”, đồng ý con dâu, khuyên nhủ những con đầy lạc quan…

* ý nghĩa sâu sắc của tình huống truyện

  • Tình huống truyện là một trong những yếu tố để làm nổi trội chủ đề tác phẩm đồng thời tạo điều kiện cho nhà văn mô tả tâm lí nhân vật.
  • Tạo cho tác phẩm có được kết cấu chặt chẽ. những sự việc, những chi tiết khác được kể tới đều xoay quanh tình huống này.
  • Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít đẩy con người đến bước đường cùng, biến giá trị con người thành số không.
  • Thể hiện được cái tình của người lao động nghèo và tấm lòng nhân hậu đầy yêu thương của bà mẹ
  • Nói lên lấy được lòng ham sống, thực chất lạc quan của người lao động đang bị lâm vào cảnh khốn cùng.

c) Kết bài

  • Khái quát ý nghĩa sâu sắc của tình huống nhặt vợ đối với tác phẩm
  • Cảm nhận của em về tình huống.

Xem thêm: Phân tích tình huống độc đáo trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân

Dàn ý chi tiết tình huống truyện Vợ nhặt

a) Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm:

  • Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống nông thôn.
  • Nạn đói năm 1945 đã đi vào nhiều trang viết của những nhà văn, nhà thơ Trong số đó có Vợ nhặt của Kim Lân.

– Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề : Tình huống truyện độc đáo trong Vợ Nhặt.

b) Thân bài

* Khái niệm tình huống truyện

  • Tình huống truyện là hoàn cảnh riêng được tạo thành bởi một sự kiện đặc biệt mà tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất, bộc lộ rõ nét nhất ý đồ tư tưởng của tác giả.
  • Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại.

* Phân tích tình huống nhặt vợ

Bối cảnh xây dựng tình huống truyện:

+ Bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả là hơn hai triệu người chết.

+ Một không khí ảm đạm, thê lương, những người sống luôn bị cái chết đe dọa.

tóm lại tình huống: Vốn là một chàng trai dân ngụ cư, xấu trai, ế ẩm lại nghèo, thế mà Tràng đã “nhặt” được vợ một cách ngẫu nhiên và quá dễ dàng ngay trong những ngày đói chỉ bằng mấy câu hát, mấy lời bông đùa “tầm phơ tầm phào”, mấy bát bánh đúc…

– những chi tiết độc đáo của tình huống truyện:

+ Ở Tràng quy tụ nhiều yếu tố khiến nguy cơ “ế” vợ rất cao:

  • Ngoại hình xấu xí, thô kệch.
  • Tính tình có phần không bình thường.
  • Ăn nói cộc cằn, thô lỗ.
  • Nhà nghèo, đi làm thuê nuôi mình và mẹ già.
  • Nạn đói đe dọa, cái chết đeo bám.

+ Tràng lấy vợ là lấy cho mình thêm một tai ương (theo lô gíc tự nhiên).

+ Việc Tràng lấy vợ là một tình huống bất ngờ

  • Cả xóm ngụ cư ngạc nhiên.
  • Bà cụ Tứ cũng hết sức ngạc nhiên
  • Bản thân Tràng có vợ rồi vẫn còn đấy đấy “ngờ ngợ”.

+ Tình huống truyện bất ngờ nhưng rất hợp lí:

  • Nếu không phải năm đói khủng khiếp thì “người ta” không thèm lấy một người như Tràng.
  • Tràng lấy vợ theo kiểu “nhặt” được.

* Giá trị của tình huống truyện

Giá trị hiện thực:

+ Phác họa tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói

  • Cái đói dồn đuổi con người.
  • Cái đói bóp méo cả nhân cách.
  • Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mỏng manh, tội nghiệp.

+ Tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân Pháp, phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp.

– Giá trị nhân đạo

+ Tình người cao đẹp thể hiện qua cách đối xử với nhau của những nhân vật.

  • Tràng rất trân trọng người “vợ nhặt” của tớ.
  • Thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức nơi người “vợ nhặt”
  • Tình yêu thương con của bà cụ Tứ.

+ Con người luôn nhắm tới sự sống và luôn hy vọng, tin tưởng ở tương lai:

  • Tràng lấy vợ là để duy trì sự sống.
  • Bà cụ Tứ, một người già lại luôn miệng nói về ngày mai với những dự định thiết thực tạo niềm tin cho con dâu vào một cuộc sống đẹp đẽ.
  • Đoạn kết tác phẩm với hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người phá kho thóc Nhật.

c) Kết bài

  • Khẳng định tài năng nhà văn qua việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn.
  • Khẳng định giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Dàn ý tình huống truyện Vợ nhặt

1. Mở bài

  • Nạn đói năm 1945 cướp đi hơn hai triệu đồng bào ta.
  • Kim Lân đã dựng lên một tác phẩm với cùng một tình huống truyện đặc sắc mô tả con người trong nạn đói này.

2. Thân bài

a. Tình huống truyện là gì?

  • Là sự kiện đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt trong tác phẩm mà qua đó tác giả muốn bộc lộ quan điểm của tớ cũng như tính cách, số phận của những nhân vật.
  • Tình huống truyện là hạt nhân, lát cắt chân thực của cuộc sống, từ đó cho ta thấy một phần của cuộc sống, xã hội, con người.

b. Tình huống truyện trong Vợ nhặt:

  • Được thể hiện ngay từ nhan đề của tác phẩm.
  • Nội dung: Một anh cu Tràng xấu trai, nghèo lại “nhặt” được cô vợ giữa lúc nạn đói năm 1945 đang hoành hành dữ dội.
  • Nhan đề với từ “nhặt”: gợi lên sự tò mò, hấp dẫn cho tác phẩm đồng thời cũng là nét độc đáo, gây ấn tượng sâu sắc.

c. Phân tích tình huống truyện:

– Bối cảnh của tình huống truyện:

  • Bối cảnh là nạn đói năm 1945 với kết quả hơn hai triệu người chết.
  • Mỗi câu từ trong tác phẩm đều gợi lên sự u ám, cái chết luôn rình rập.

– Tình huống truyện vừa độc đáo, lạ lùng vừa éo le:

* Lạ lùng: Trong bối cảnh đầy run rủi ấy, con người còn chẳng thể lo nổi cho bản thân, ấy vậy mà anh cu Tràng còn rước về một cô vợ.

  • Tràng: quy tụ toàn bộ những yếu tố khó rất có thể lấy vợ: ngoại hình xấu xí “cái mặt thô kệch”, “đôi mắt nhỏ tí”, “cái lưng to như lưng gấu”, … cùng với tính cách có phần cộc cằn, thô lỗ.
  • Nghèo: đi làm thuê nuôi mẹ già, có một căn nhà lụp xụp ở một xóm ngụ cư.
  • Và quan trọng là nạn đói đang ra mắt trầm trọng, cái chết đeo bám mỗi con người “Người chết như ngả rạ”, “Không buổi sáng …của xác người”.

=> Với ngoại hình, tính cách, gia cảnh và tình cảnh như hiện tại, Tràng không thể tìm được một cô vợ.

+ thế cho nên, chuyện Tràng lấy vợ ở hoàn cảnh hiện tại không khác gì “đèo bòng”, “rước của nợ đời”.

=> Ấy thế mà Tràng lại có vợ trong lúc không ai ngờ nhất, trong hoàn cảnh mà cuộc sống đang phải giành giật từng ngày => cái lạ của tình huống truyện.

* Cái éo le:

  • Việc lấy vợ là chuyện đại sự, là hạnh phúc lớn nhất của đời người lại ra mắt trong lúc “tối sầm vì đói khát”, bị chen ngang bởi nỗi lo bởi cái đói, cái chết.
  • Duyên phận đưa đẩy họ đến với nhau cũng là cái đói: Thị gặp hắn lần đầu khi hắn kéo thóc qua dốc, chỉ với câu hò vu vơ, thị đã “ton ton” chạy lại cũng đẩy xe với hắn.
  • Lần thứ hai hội ngộ, Tràng không nhận thấy Thị bởi “hôm nay Thị …xám xịt”. Và chỉ bằng vài bát bánh đúc và một câu nói đùa, Thị đã bằng lòng theo hắn về nhà làm vợ.

– Phản ứng của mọi người khi Tràng lấy vợ:

  • Những người dân xóm ngụ cư:
  • Họ ngạc nhiên “Người trong xóm lạ lắm”, “Họ đứng …bàn tán”.
  • Thế rồi họ hiểu và vui mừng thay cho Tràng, “Những khuôn mặt …hẳn lên”, “có người …rúc”.
  • Thế nhưng có những người lại thở dài ngao ngán “Ôi chao, … này không”, bởi họ lo cho Tràng cho Thị, lo cái chết sẽ tìm tới những con người nghèo như họ.

* Đối với Tràng:

  • thuở đầu là sự ngạc nhiên khi chỉ bằng một câu nói đùa “này nói đùa …cùng về” với dăm ba bát bánh đúc mà Thị đã bằng lòng theo Tràng về nhà.
  • Tiếp theo là nỗi sợ hãi, cái “chợn”: “Nói thế Tràng …thật”, “Thóc gạo …đèo bòng” , thế nhưng nỗi sợ ấy qua nhanh Tràng “chặc lưỡi: chặc, kệ”
  • Sự vui mừng khi cái khao khát về hạnh phúc gia đình được hiện thực hóa “hắn tủm tỉm … lấp lánh”, nhìn Thị “ngượng nghịu…chân kia”, hắn thích chí “cười khanh khách”.
  • Nỗi sợ về cái đói, cái chết đã bị niềm hạnh phúc gia đình, cái trách nhiệm đẩy lùi “Trong một lúc Tràng hình như …đi bên”.
  • Niềm hạnh phúc ấy khiến Tràng cứ ngỡ không tồn tại thật “hắn vẫn …không phải”.

=> thú vui, niềm hạnh phúc đến với Tràng bất ngờ, nhanh gọn, trong lúc đói khát nhất, trong hoàn cảnh éo le nhất.

* Bà cụ Tứ:

  • Bà cực kì ngạc nhiên trước thái độ của Tràng, do dự hỏi han.
  • Bà càng ngạc nhiên hơn khi thấy một người đàn bà khác trong nhà mình và chào bà bằng u “quái sao …thế kia?” => bà ngạc nhiên cực kì.
  • Thế rồi khi nghe Tràng nói, bà “cúi đầu nín lặng”, bà “vừa ai oán … con mình” =>Sự tủi phận của một người mẹ không làm tròn được bổn phận của tớ “Chao ôi …còn mình thì …”
  • Rồi bà cũng “mừng lòng”, vui lòng với người dâu mợi, khuyên nhủ hai đứa con với những lời lẽ lạc quan “Nhà ta nghèo …ba đời”.
  • Những giọt nước mắt của người mẹ già thương con “Chúng mày …thương quá!”.

– ý nghĩa sâu sắc của tình huống truyện:

  • Làm nổi trội chủ đề của tác phẩm, đồng thời tạo điều kiện để nhà văn khai thác nội tâm những nhân vật.
  • Kim Lân đã dựng lên một tình huống truyện độc nhất vô nhị: làm nổi trội tình cảnh của con người trong nạn đói năm 1945, vừa thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước những số phận tăm tối của con người trước Cách mạng tháng Tám.
  • Tình huống truyện éo le gieo vào lòng người đọc những cảm xúc khó tả.

– Truyện mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc:

– Về giá trị hiện thực:

  • Tình cảnh người dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945
  • Cái đói dồn đuổi con người, bóp méo nhân cách, biến những hạnh phúc đẹp đẽ nhất trở thành mỏng manh.
  • Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít
  • Giá trị nhân đạo:
  • Tình người đẹp đẽ qua cách ứng xử của những nhân vật
  • Gieo vào lòng người niềm hy vọng về một tương lai đẹp đẽ phía trước nơi có ngọn cờ Cách mạng.

3. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *