Cảm nhận tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ gồm dàn ý chi tiết kèm theo 6 bài văn mẫu hay được Download.vn tuyển chọn từ bài làm của những bạn học viên giỏi trên toàn quốc.

Qua 6 bài cảm nhận Hồn Trương Ba, da hàng thịt những bạn có thêm nhiều tài liệu ôn tập, củng cố kiến thức và kỹ năng và nắm vững được kiến thức và kỹ năng, cách làm bài văn dạng cảm nhận để đạt được kết quả cao trong những bài kiểm tra, bài thi THPT vương quốc sắp tới đây. Mời những bạn cùng xem thêm.

Cảm nhận tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay

  • Dàn ý cảm nhận Hồn Trương Ba, da hàng thịt
  • Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 1
  • Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 2
  • Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 3
  • Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 4
  • Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 5
  • Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 6

Dàn ý cảm nhận Hồn Trương Ba, da hàng thịt

1. Mở Bài

  • hoàn toàn có thể nói khao khát được là chính mình đã được thể hiện trong rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, đó đúng là cái “tôi” cá nhân đầy mạnh mẽ.
  • Một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất khao khát này đó đúng là vở kịch có tên Hồn Trương Ba, da hàng thịt do nhà soạn kịch tài ba Lưu Quang Vũ chắp bút.

2. Thân Bài

* Tác giả, tác phẩm:

– Lưu Quang Vũ (1948-1988), quê gốc ở TP Đà Nẵng, nhưng sinh sống, học tập và làm việc ở Thủ Đô Hà Nội, từng tham gia quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1960-1970).

– Ông là nhà viết kịch có nhiều đóng góp đặc sắc, với trên 50 tác phẩm kịch trong vòng 10 năm trời sáng tác và hầu như chúng đều được trình chiếu, dàn dựng trên toàn quốc.

– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch có cốt truyện nguồn gốc nguồn gốc từ dân gian, ra mắt năm 1981, mãi đến năm 1984 mới được ra mắt, và ngay lập tức đã được độc giả đón nhận nồng hậu. Đoạn trích trong chương trình học nằm ở cảnh thứ 7 và trong phần kết của vở kịch.

* thảm kịch bị tha hóa của hồn Trương Ba:

– Trong cuộc độc thoại nội tâm:

  • Ông tự nhận thấy mình bắt đầu ham uống rượu, ăn thịt, hững hờ với đánh cờ.
  • Ông hoang mang, bồn chồn và sợ hãi, khao khát được rời khỏi cái xác thô kệch dù chỉ một chốc lát.

– Trong cuộc đối thoại với xác:

  • Xác đã dùng những lý lẽ hết sức sắc bén, lươn lẹo, giọng điệu mỉa mai để vạch trần sự tha hóa của hồn Trương Ba.
  • Việc khao khát khi ở bên cạnh vợ anh hàng thịt, thích ăn thịt, rồi húp cả tiết canh,…
  • Sức mạnh của xác đã giúp Trương Ba đánh thằng con trai bật máu mồm, giúp ông cày xới khu vườn.
  • Cũng nhờ có xác mà Trương Ba được gần gũi người thân, nhìn ngắm bầu trời,…

→ Hồn và xác tuy hai mà một, đều thống nhất trong một cuộc chơi, hồn cứ việc tha hóa, rồi đổ tội cho xác để được thanh thản, ngược lại xác phải được “chiều chuộng” những ham muốn tầm thường.

+ Bản thân Trương Ba tuy tức giận, liên tục chỉ trích xác ti tiện, là “xác thịt âm u” không tồn tại cảm xúc, tri giác, lại còn lươn lẹo nhưng sau cùng ông vẫn bị đuối lý bởi xác nói đúng, ông đang bị tha hóa. Điều đó khiến ông vô vọng.

* thảm kịch bị chối bỏ:

  • Bà vợ đòi bỏ đi
  • Đứa cháu gái không thừa nhận ông nội, cho rằng ông là kẻ đồ tể, cục súc đang phá hoại khu vườn của ông nội nó.
  • Cô con dâu tuy thấu hiểu, nhưng sau cùng cũng bộc bạch những sự thay đổi, lệch lạc của hồn Trương Ba. Điều này làm ông hoàn toàn nhận thấy sự tha hóa của tớ.

* Giải quyết xung đột kịch

  • Trương Ba quyết tâm trả lại xác cho anh hàng thị
  • Xin cho cu Tị được sống lại, còn mình thì xin được chết hẳn.
  • Đó là những quyết định rất khó khăn của Trương Ba, nhưng không thể cách giải quyết nào khác đẹp đẽ hơn nữa. Ông không thể sống trong một đằng, ngoài một nẻo.

* ý nghĩa sâu sắc đoạn kết:

  • Đoạn kết là kết thúc có hậu cho một vở thảm kịch lạc quan.
  • Trương Ba đã quay về làm chính mình, tuy không thể trên nhân thế nhưng ông trở thành bất tử trong lòng người thân, lấy lại được toàn vẹn những tình cảm trước đây ông đánh mất, trở thành thanh thản, cao khiết quay về.

3. Kết Bài

  • Toàn bộ vở kịch của Lưu Quang Vũ sau cùng kết lại ở thông điệp: Dù cuộc đời nhiều cám dỗ nhưng con người vẫn luôn phấn đấu để giữ được tâm hồn nguyên vẹn , trong sáng, thẳng thắn, luôn cố gắng để được làm chính mình.
  • Những con người đã khuất hãy là một bản tình khúc để tuổi trẻ hôm nay mãi nhớ về, mãi ngân nga từ đó gieo niềm tin cho cuộc đời. Sống có nhiều cách sống, Trong số đó có cách dù thân xác đã trở về cát bụi nhưng tâm hồn vẫn mãi còn bất tử với những ấn tượng và kỷ niệm đẹp nhất trong lòng người ở lại.

Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 1

Như chúng ta đã biết, Lưu Quang Vũ là một người cực kì tài năng, những sáng tác của ông đã để lại cho hậu thế những bài học về cuộc sống về con người về mối quan hệ giữa người với người. Trong số đó, Hồn Trương Ba da hàng thịt là tác phẩm kịch nổi tiếng. Chính nhan đề của kịch cũng tạo ra những hấp dẫn không tưởng cho độc giả. Ngoài ra nó còn gợi mở những ý nghĩa sâu sắc ẩn ý Trong số đó. Một nhan đề không chỉ có tạo sức hấp dẫn khi khởi lên được sự tò mò nơi độc giả. Hồn Trương Ba và da hàng thịt đúng là những hình ảnh mang ý nghĩa sâu sắc hình tượng sâu sắc. Hồn và thân xác vốn dĩ gắn liền với nhau, hòa hợp với nhau nhưng khi hồn một nơi xác một nơi thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đấy là một trong những điểm thắt nút mà chính ngay tại kịch, Lưu Quang Vũ đã giải quyết một cách thỏa đáng.hoàn toàn có thể thấy rằng da hàng thịt là hình tượng cho vẻ bề ngoài thân xác con người thì hồn Trương Ba là hình tượng cho tâm hồn, cho trái đất nội tâm sâu kín bên trong. Sự mâu xích míc giữa hình thức và thực chất trong một con người. trải qua kịch thì nó còn nhằm thể hiện một ý nghĩa sâu sắc sâu xa,hồn Trương Ba còn là hình tượng cho vẻ đẹp trong sáng thanh cao, còn da hàng thịt lại là hình tượng cho cái xấu xa, cái dung tục tầm thường, cái thực chất thấp kém trong một con người. Một con người không thể sống trong vỏ bọc của một người khác.hơn nữa một tâm hồn thanh cao không thể sống không thể ẩn náu trong một thân xác dung tục. Sống như thế thì còn khổ hơn chết, thế thì thà chết còn thỏa.

Vở kịch không chỉ có có ý nghĩa sâu sắc triết lý về nhân sinh, về hạnh phúc con người mà còn góp phần phê phán một số thể hiện tích cực trong lối sống lúc giờ đây.

Điều thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở thành phàm phu, dung tục. Nó được thể hiện ở phần trích đoạn giữa linh hồn và xác, giữa hồn Trương Ba và những người thân trong gia đình, giữa hồn Trương Ba và Đế Thích; sau cùng là cái “chết” của hồn Trương Ba.

Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt là một cuộc đối thoại sinh động, đầy ý nghĩa sâu sắc triết lí gồm có 25 lượt lời. Xác hàng thịt thì một điều “ông”, hai điều “ông”, nhưng hồn Trương Ba, sỉ nhục xác hàng thịt đủ điều: xác hàng thịt cho biết dù có “âm u đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy”; sao ông không nhớ “Khi ông đứng cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại”; hoặc “Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ những thứ thú vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc sao?”. tức là hồn Trương Ba đã bị sa sút, tha hóa khi hồn ông sống nhờ trong một thân xác của một kẻ khác chứ không phải chính mình. Khi hồn Trương Ba tự hào cho rằng mình có một đời sống riêng: “nguyên vẹn, trong sáng, thẳng thắn” thì đúng lúc đó xác hàng thịt châm biếm: “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sáng, thẳng thắn!”.

Như vậy qua những lời lẽ của xác hàng thịt tỏ ra coi thường hồn Trương Ba, tự kiêu tự đại khẳng định vị thế, vai trò quan trọng của tớ.

Giữa hồn Trương Ba và da Hàng thịt có một cuộc đối thoại và cũng là cuộc đấu tranh giữa thân xác và linh hồn cùng tồn tại trong một con người. thân xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau đế cùng sống, cùng tồn tại. Khi linh hồn “bay đi” thì thân xác cũng trở về cát bụi. Linh hồn đấu tranh, chi phối với những ham muốn, những dục vọng tầm thường của thân xác mà nhân cách được hoàn thiện, tâm hồn được trong sáng.

Mối quan hệ này cũng được thể hiện qua câu nói của xác hàng thịt: “Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn” làm cho ý nghĩa sâu sắc ẩn dụ của đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt thêm cụ thể, sâu sắc.

Một điều chúng ta cũng hoàn toàn có thể thấy rằng khi sống nhờ xác hàng thịt, hồn Trương Ba bị tha hóa nhiều: tát con trai tóe máu mồm máu mũi. Hồn Trương Ba khác hẳn ngày xưa, làm vườn thì thô vụng: đã làm “gãy tiệt cái chồi non” của cây cam, đã “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm”, đã “làm gãy cả nan, rách rưới cả giấy, hỏng mất cả cái diều đẹp” của cu Tị. Chính cũng từ lúc ấy thảm kịch hồn xác không giống nhau đã khiến cho hồn Trương Ba sống trong thảm kịch, trải qua nhiều dằn vặt, đau khổ: vợ muốn bỏ đi để “ông được thảnh thơi với cô vợ người hàng thịt”; cái Gái, đứa cháu nội thì khinh bỉ, xua đuổi: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”. Chị con dâu, người thông cảm và thương hồn Trương Ba hơn cả, giờ đây trước cảnh “tan hoang” của gia đình thì cực kì lo sợ, đau đớn “thấy mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, toàn bộ như lệch lạc, nhòa mờ dần đến nỗi có những lúc chính con cũng không nhận thấy thầy nữa“.

Hồn Trương Ba tê tái, “mặt lạnh ngắt như tảng đá”. Ngồi một mình, như sực tỉnh, như bàng hoàng: “Mày đã thắng thế rồi đó, cái thân xác không phải của tao ạ, mày đã tìm được đủ mọi cách để lấn át ta”. Không thế sống gửi nằm nhờ mãi được, không thể bị lệ thuộc vào thân xác hàng thịt và tự đánh mất mình, hồn Trương Ba an úi, thức tỉnh, động viên mình: “Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày mà tự đánh mất mình? Có thật không thể cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”. Sự tỉnh ngộ của hồn Trương Ba tuy muộn màng nhưng thật có nhiều ý nghĩa sâu sắc. Linh hồn của Trương Ba đã tìm ra hướng đi cho mình.

Sau đó cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa linh hồn Trương Ba và Đế Thích đã đẩy xung đột kịch lên cao trào, đỉnh điểm. Phải tìm gặp ngay Đế Thích, Hồn Trương Ba “vực dậy, lập cập nhưng quả quyết, đến bên cột nhà, lẩy một nén hương châm lửa, thắp lên”. tái ngộ người bạn chơi cờ ở cõi trời, hồn Trương Ba thổ lộ bao nỗi niềm day dứt: “Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt nữa, không thể được! Không thể bên trong một đằng, phía bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

Mặc dù đã được Đế Thích cho biết cái lẽ trời, cái lẽ đời là từ Ngọc Hoàng đến người trần mắt thịt có ai được là “mình toàn vẹn”, mà “phải khuôn ép mình” Vả lại, ông đã bị Nam Tào “gạch tên khỏi sổ”, thân thể của ông “đã tan rữa trong bùn đất” rồi. Sau khi phân trần Hồn Trương Ba không muốn được sống trong thân xác anh hàng thịt nữa, cũng không muốn được ‘‘nhập vào cu Tị” bởi lẽ nhiều điều phiền toái, trớ trêu sẽ ra mắt, sâu xa hơn nữa sẽ “bơ vơ lạc lõng”, “đáng ghét như kẻ tham lam”. Thật vô lí, cực kì vô lí, bởi lẽ “một kẻ lí ra phải chết từ lâu mà vẫn cứ sống, cứ trẻ khỏe, cứ ngang nhiên hưởng thụ mọi thứ lộc trời!“. Xưa nay. như ta đã biết, những kẻ úy tử tham sinh, những ké tham quyền cỏ vị đều bị đồng loại coi khinh và chê cười!.

Một điều rõ ràng Hồn Trương Ba tuy có những lúc tha hóa sa sút, nhưng giờ đây vẫn tỏ ra tỉnh táo, đáng trọng. Ông muốn Đế Thích hóa phép làm cho hồn hàng thịt được “sống lại” với thân xác anh ta; chỉ muốn vị tiên cờ hóa phép làm cho cu Tị được sống lại với mẹ nó, được chơi với bè bạn: “Ông Đế Thích, vì còn trẻ ông ạ, vì con trẻ. Ông hãy giúp tôi lần sau cùng” Ý muốn ấy rất nhân bản và cao thượng, Hồn Trương Ba càng cầu khẩn tha thiết: “Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn! Việc đúng còn làm kịp giờ đây là làm cu Tị sống lại. Còn tôi, cứ để tôi chết hẳn”. Hồn Trương Ba đã bẻ gãy cả bó hương do Đế Thích tặng, nhất quyết muốn nhảy xuống sông tự tử hoặc đâm cổ tự tử để được chết, để tâm hồn mình được “quay về thanh thản, trong sáng như xưa”. ý tưởng của hồn Trương Ba thật cao thượng.

Như vậy vở kịch còn đề cập đến một số vấn đề không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám, cũng không được sống với thực chất bản thân mình, đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi.

Đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt gợi cho độc giả, khán giá nhiều bâng khuâng. Hồn Trương Ba không theo Đế Thích về trời để chơi cờ, và lại hóa thành màu xanh của cây vườn, vị thơm ngon của trái na, vẫn quấn quýt với người thân, gần gũi nơi bậc cửa, trong ánh lửa, nơi cầu ao, trong cơi trầu, con dao., của vợ con thương yêu. Như vậy hồn Trương Ba cao khiết vẫn bất tử trong cõi đời. Cái kết đầy chất thơ ấy đã làm cho tư tưởng nhân văn tỏa sáng tác phẩm.

Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 2

Trong sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ, Hồn Trương Ba da hàng thịt là một trong những tác phẩm xuất sắc của ông. Vở kịch được tác giả hiện đại hóa từ cốt truyện dân gian, qua hệ thống nhân vật Lưu Quang Vũ đã đề ra nhiều vấn đề bức thiết của cuộc sống lúc bấy giờ.

Qua cuộc đấu tranh giữa thân xác và linh hồn, Lưu Quang Vũ chuyển tải đến bạn đọc ý nghĩa sâu sắc nhân văn sâu sắc. Qua những nghịch cảnh, ta thấy được vẻ đẹp của nhân dân lao động trong trận đánh thời bình chống lại cái ác, chống lại sự giả tạo và khát vọng hoàn thiện nhân cách, bảo vệ quyền sống đích thực.

Trương Ba bị chết oan uổng do sự vô tâm, tắc trách của Nam Tào, vì thế được Bắc Đẩu sửa sai, nhưng lại sửa sai một cách vô lý là cho hồn Trương Ba nhập vào xác của anh hàng thịt. Vậy là một linh hồn thanh cao, nhân hậu, ngay thẳng lại phải sống nhờ và lệ thuộc vào xác của anh hàng thịt. Linh hồn Trương Ba không sai khiến được mà còn bị xác thịt điều khiển lại, dẫn tới linh hồn bị nhiễm độc tầm thường. Chính vì ý thức được điều này, khiến Trương Ba dằn vặt, đau khổ và đưa ra quyết định sống độc lập.

Trước những lý lẽ của xác thịt, hồn Trương Ba nổi giận, khinh bỉ xác thịt nhưng phần nào cũng ngậm ngùi vì hắn có lý và Trương Ba quay về xác thịt trong vô vọng. Cuộc tranh cãi với xác thịt là thảm kịch thứ nhất, vì xác thịt đã thắng. Còn thảm kịch thứ hai là xung đột giữa Trương Ba và gia đình. Ông dằn vặt khi hiểu những gì mình đã, đang và sẽ gây ra những điều tệ hại cho dù ông không hề muốn. toàn bộ những người thân đều xa rời ông vì hồn ông dần bị mờ khuất, chỉ sót lại thân xác anh hàng thịt thô lỗ hiện hữu trong nhà gây biết bao phiền toái, chướng tai gai mắt.

Màn kết của vở kịch sau khi đẩy những xung đột lên tới đỉnh điểm, hóa giải những nghịch cảnh, Trương Ba trả lại xác cho anh hàng thịt, chấp thuận cái chết để linh hồn tồn tại vĩnh viễn bên những người thân yêu của tớ.

Một cuộc sống không đáng sống vì cái thanh cao phải dung hòa với cái thấp hèn thì chẳng phải sẽ thành thảm kịch sao? thân xác và linh hồn có mối quan hệ hữu cơ với nhau không tách rời. Xác thịt có nhu cầu mang tính bản năng, còn linh hồn mang tính chất thanh cao, vươn tới sự hoàn thiện nhân cách. Qua đây, Lưu Quang Vũ muốn nhấn mạnh rằng khi con người ta phải sống trong cái tầm thường thì tất yếu sẽ bị nhiễm độc, nét đẹp đẽ sẽ bị lấn át. Những xung đột từ bên trong con người trải qua cuộc đối thoại có tính giả tưởng giữa linh hồn và thân xác nhằm hướng tới vấn đề mang tính triết học.

toàn bộ thảm kịch xảy ra từ những tồn tại đầy nghịch lý, trái với lẽ tự nhiên khiến cái dung tục có thời cơ ngự trị, lấn át và đồng lõa những gì vốn thanh cao, đẹp đẽ. Qua đó, cổ vũ cho cuộc đấu tranh bảo vệ cho những phẩm tính cao quý của con người nhằm hướng tới khát vọng trong sáng, hài hòa giữa thân xác và tâm hồn để hoàn thiện nhân cách, để xứng đáng chức vị làm người.

Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 3

Những năm tám mươi của thế kỉ XX, kịch của Lưu Quang Vũ đã làm chấn động sân khấu kịch Việt Nam thời đổi mới.

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là vở kịch đặc sắc nhất của ông, được sáng tác từ năm 1981, nhưng ba năm sau (1984) mới được ra mắt khán giả. Vở kịch được sáng tạo từ một truyện cổ tích cùng tên, qua đó, tác giả nêu lên một vấn đề xã hội mang tính triết lí sâu sắc: mối quan hệ giữa thân xác và con người ta không thể sống sống nhờ, sống gửi vào cuộc sống của người khác.

Phần trích đoạn kịch là cuộc đối thoại giữa linh hồn và xác, giữa hồn Trương Ba và những người thân trong gia đình, giữa hồn Trương Ba và Đế Thích; sau cùng là cái “chết” của hồn Trương Ba.

Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt là một cuộc đối thoại sinh động, đầy ý nghĩa sâu sắc triết lí. Lớp kịch này có 25 lượt . Xác hàng thịt thì một điều “ông”, hai điều “ông”, nhưng hồn Trương Ba thì chỉ có “mày”, “ta”. Thế nhưng xác hàng thịt đã lấn lướt hồn Trương Ba, sỉ nhục hồn Trương Ba đủ điều: Xác hàng thịt cho biết dù có “âm u đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả linh hồn cao khiết của ông đấy“; sao ông không nhớ “Khi ông đứng cạnh vợ tay chân run hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại…” hoặc “Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ những thứ thú vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc sao?

tức là hồn Trương Ba đã bị sa sút, tha hóa. Khi hồn Trương Ba tự hào cho rằng mình có một đời sống riêng: “nguyên vẹn, trong sáng, thẳng thắn” thì xác hàng thịt châm biếm: “Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sáng, thẳng thắn!“.

Xác hàng thịt tỏ ra coi thường hồn Trương Ba, tự kiêu tự đại khẳng định vị thế, vai trò quan trọng của tớ. Nào là “tôi đã cho ông sức mạnh” hoặc “Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn“. Nào là “Nhờ tôi mà ông hoàn toàn có thể làm lụng, cuốc xới… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận trái đất này qua những giác quan của tôi…

Xác hàng thịt thì thầm: “Tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn“; “Tôi biết cần phải để cho tính tự ái của ông được vuốt nhẹ“…, “chúng ta tuy hai mà một!“.

Cuộc đối thoại giữa xác hàng thịt và hồn Trương Ba là cuộc đấu tranh giữa thân xác và linh hồn cùng tồn tại trong một con người. thân xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau, cả hai gắn bó với nhau để cùng sống, cùng tồn tại. thân xác có tính độc lập tương đối của nó, có tiếng nói của nó, có khả năng tác động vào linh hồn, vì nó là nơi cư ngụ của linh hồn. Khi thân xác tiêu tan thì linh hồn cũng mất. Khi linh hồn “bay đi” thì thân xác cũng trở về cát bụi. Nhờ có linh hồn đấu tranh, chi phối với những ham muốn, những dục vọng tầm thường của thân xác mà nhân cách được hoàn thiện, tâm hồn được trong sáng.

Câu nói của xác hàng thịt: “Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn” đã cho thấy mối quan hệ hữu cơ giữa thân xác và linh hồn, làm cho ý nghĩa sâu sắc ẩn dụ của đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt thêm cụ thể, sâu sắc.

Từ khi sống nhờ xác hàng thịt, hồn Trương Ba bị tha hóa nhiều: tát con trai tóe máu mồm máu mũi (bằng bàn tay, bằng sức mạnh và sự tàn bạo của xác hàng thịt). Hồn Trương Ba khác hẳn ngày xưa, làm vườn thì thô vụng: đã làm “gãy tiệt cái chồi non” của cây cam, đã “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm“, đã “làm gãy cả nam, rách rưới cả giấy, hỏng mất cá cái diều đẹp” của cu Tị.

Từ ngày mang xác hàng thịt, hồn Trương Ba sống trong thảm kịch, trải qua nhiều dằn vặt, đau khổ: vợ muốn bỏ đi để “ông được thảnh thơi … với cô vợ người hàng thịt“; cái Gái, đứa cháu nội thì khinh bỉ, xua đuổi: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!“. Chị con dâu, người thông cảm và thương hồn Trương Ba hơn cả, giờ đây trước cảnh “tan hoang” của gia đình thì cực kì lo sợ, đau đớn “thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, toàn bộ như lệch lạc, nhòa mờ dần đến cũng không nhận thấy thầy nữa…“.

Trước lời than khóc của người con dâu, hồn Trương Ba tê tái, “mặt lạnh ngắt như tảng đá Ngồi một mình, như sực tỉnh, như bàng hoàng: “Mày đã thắng thế rồi đó, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm được đủ mọi cách để lấn át ta…“.

Không thể sống gửi nằm nhờ mãi được, không thể bị lệ thuộc vào thân xác hàng thịt và tự đánh mất mình, hồn Trương Ba an ủi, thức tỉnh, động viên mình: “Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày mà tự đánh mất mình“… “Có thật không thể cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!“.

Sự do dự bị đẩy lùi, bị xua tan. Sự tỉnh ngộ của hồn Trương Ba tuy muộn mằn nhưng thật có nhiều ý nghĩa sâu sắc. Con đường tự giải thoát, linh hồn đã nhìn thấy ánh sáng.

Cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa linh hồn Trương Ba và Đế Thích đã đẩy xung đột kịch lên cao trào, đỉnh điểm. Phải tìm gặp ngay Đế Thích, Hồn Trương Ba “vực dậy, lập cập nhưng quả quyết, đến bên cột nhà, lấy một nén hương châm lửa, thắp lên“. tái ngộ người bạn chơi cờ ở cõi trời, hồn Trương Ba thổ lộ bao nỗi niềm day dứt: “Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!… Không thể bên trong một đằng, phía bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn“.

Mặc dù đã được Đế Thích cho biết cái lẽ trời, cái lẽ đời là từ Ngọc Hoàng đến người trần mắt thịt có ai được là “mình toàn vẹn”, mà “phải khuôn ép mình”… Vả lại, ông đã bị Nam Tào “gạch tên khỏi sổ”, thân thể của ông “đã tan rữa trong bùn rồi. Nhưng hồn Trương Ba phân trần, nài nỉ, nói lên thân phận hèn kém, sống gửi nằm nhờ của tớ: “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ hàng thịt. Ông chỉ nghĩa đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần phải ghi nhận!”. Hồn Trương Ba không muốn được sống trong thân xác anh hàng thịt nữa, cũng không muốn được “nhập vào cụ Tị” bởi lẽ bao điều phiền toái, trớ trêu sẽ ra mắt, sâu xa hơn nữa sẽ “bơ vơ lạc lõng”, “đáng ghét như kẻ tham lam”. Thật vô lí, cực kì vô lí, bởi lẽ “một kẻ lí ra phải chết từ lâu mà vẫn cứ sống, cứ trẻ khỏe, cứ ngang nhiên hưởng thụ mọi thứ lộc trời!”. Xưa nay, như ta đã biết, những kẻ úy tử tham sinh, những kẻ tham quyền cố vị đều bị đồng loại coi khinh và chê cười!

Hồn Trương Ba tuy có những lúc tha hóa sa sút, nhưng giờ đây vẫn tỏ ra tỉnh táo, đáng trọng. Chỉ muốn Đế Thích hóa phép làm cho hồn hàng thịt được “sống lại” với thân xác anh ta; chỉ muốn vị tiên cờ hóa phép làm cho cu Tị được sống lại với mẹ nó, được chơi với bè bạn: “Ông Đế Thích, vì con trẻ ông ạ, vì con trẻ. Ông hay giúp tôi lần sau cùng”… Ý muốn ấy rất nhân bản và cao thượng.

Hồn Trương Ba càng nói càng cầu khẩn tha thiết: “Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn!… Việc đúng còn làm kịp giờ đây là làm cu Tị sống lại. Còn tôi, cứ để tôi chết hẳn…”.

Cái giá của sự sống và chết “đắt quá, không thể trả được”. Cho dù chết là hết, “khi được tham gia vào bất kể nỗi vui buồn gì”, nhưng sống gửi nằm nhờ thì “còn khổ hơn là cái chết”. Hồn Trương Ba đau đớn cảm thấy xót xa: “Mà không phải chỉ một mình tôi khổ!Những người thân của tôi sẽ còn phải khổ vì tôi!”. Cho dù có được sống, để vui chơi thỏa thích, được chơi cờ với Đế Thích, nhưng hồn Trương Ba đã phủ định: “Nếu còn tiếp tục sống, tôi cũng chẳng thích đánh cờ với ông nữa!… không tồn tại gì chán bằng đánh cờ với tiên!”.

Hồn Trương Ba đã bẻ gãy cả bó hương do Đế Thích tặng, hồn Trương Ba nhất quyết muốn nhảy xuống sông tự tử hoặc đâm cổ tự tử để được chết, để tâm hồn mình được “quay về thanh thản, trong sáng như xưa…”.

ý tưởng của hồn Trương Ba thật cao thượng. Hành động của hồn Trương Ba thể hiện một quan niệm sống đúng đắn, tích cực: không thể sống gửi vào thân xác kẻ khác, không thể sống tha hóa, không được sống dai, cứ cố bám riết vào đời khi cái sống đã mất hết ý nghĩa sâu sắc. Không thể sống giả tạo để mang lợi lộc cho “bọn khốn khiếp”.

Hồn Trương Ba phủ định cái sống của tớ, chịu cái chết để cho cu Tị được sống, thuận theo lẽ tự nhiên như lá vàng rụng xuống cho mầm non nhú mọc, tươi xanh. Nhân cách của hồn Trương Ba cao đẹp biết bao, đáng trọng biết bao! Bài học về ý nghĩa sâu sắc sự sống và cái chết, bài học về đạo lí và nhân cách được tác giả đề ra một cách sâu sắc và thấm thía!

Đoạn kết vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” gợi cho độc giả, khán giả nhiều bâng khuâng. Hồn Trương Ba không theo Đế Thích về trời để chơi cờ, và lại hóa thành màu xanh của cây vườn, vị thơm ngon của trái na, vẫn quấn quýt với người thân, gần gũi nơi bậc cửa, trong ánh lửa, nơi cầu ao, trong cơi trầu, con dao… của vợ con thương yêu. Cho dù thân cát bụi lại trở về cát bụi nhưng hồn Trương Ba cao khiết vẫn bất tử trong cõi đời. Cái kết đầy chất thơ ấy đã làm cho tư tưởng nhân văn tỏa sáng tác phẩm.

Nhiều thập kỉ đã trôi qua, bạn đọc ngày nay được sống trong sự đổi mới toàn diện, trong khí thế vươn lên của giang sơn và dân tộc, sẽ còn tìm thấy nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc thú vị hàm ẩn trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Hồn Trương Ba đã và đang đánh thức chúng ta.

Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 4

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là con trai của nhà biên kịch Lưu Quang Thuận, quê gốc Quảng Nam, sống và làm việc trên đất Bắc. Thừa hưởng truyền thống văn chương của dòng họ, Lưu Quang Vũ sáng tác khá sớm. Ở tuổi hai mươi, khi đang là một chiến sĩ của binh chủng Phòng không – Không quân, Lưu Quang Vũ đã có nhiều bài thơ trữ tình được thế hệ trẻ yêu thích. Từ năm 1978 đến năm 1988, ông là biên tập viên của tạp chí Sân khấu. Trong giai đoạn thứ nhất của thời kỳ đổi mới, xã hội Việt Nam có rất nhiều vấn đề nóng bỏng và bức xúc, liên quan tới quy trình phát triển của giang sơn và cuộc sống của nhân dân. Vốn là người quan tâm tới thời cuộc, Lưu Quang Vũ đã quyết định chuyển hẳn sang sáng tác kịch để có điều kiện bày tỏ, thể hiện những nhận thức và quan điểm của tớ trước công luận.

Chỉ trong vòng mười năm, hơn năm mươi vở kịch với những đề tài hết sức thời sự và thiết thực của Lưu Quang Vũ đã được dàn dựng, biểu diễn trên khắp toàn quốc, đem lại một sức sống mới cho sân khấu Việt Nam và tạo ra những tranh luận, đánh giá sôi nổi, thậm chí có những ý kiến hoàn toàn trái ngược nhau. Người ta gọi đó là “hiện tượng Lưu Quang Vũ” vì hiện tượng này hoàn toàn có thể nói là vẫn chưa từng xảy ra trong lịch sử sân khấu Việt Nam. Những vở kịch như: Lời nói dối sau cùng, Nàng Sita, Nếu anh không đốt lửa, Khoảnh khắc và vô tận, Bệnh sĩ, Tôi và Chúng ta đã khẳng định tài năng xuất sắc và nhiệt tình cháy bỏng cộng tình yêu thương con người, cuộc đời và trách nhiệm công dân rất cao của Lưu Quang Vũ. Ông mất ngột trong một tai nạn giao thông năm 1988. Năm 2000, ông được Nhà nước truy tặng phần thưởng Hồ Chí Minh và văn học nghệ thuật.

Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt vốn là một mẩu chuyện dân gian có từ lâu lăm đã được tác giả Lưu Quang Vũ xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại, đề ra nhiều vấn đề mới mẻ có ý nghĩa sâu sắc tư tưởng và triết lí nhân văn sâu sắc. Vở kịch được công diễn nhiều lần trong và ngoài nước, được dư luận đánh giá là một trong những vở kịch làm nên tên tuổi Lưu Quang Vũ. Nội dung vở kịch tóm lại như sau ; Trương Ba là một người làm vườn có tài năng chơi cờ tướng. Vì sự nhầm lẫn của Nam Tào (vị quan trên Thiên đình trông coi về sự việc sinh tử của con người dưới trần gian) nên Trương Ba ba chết oan.

Để sửa sai. Nam tào cùng Đế Thích (tiên cờ) làm cho Trương Ba sống lại trong thân xác anh hàng thịt. Mọi chuyện rắc rối xảy ra từ đây. Trương Ba bị làm phiền liên tục, bị người thân sợ hãi, xa lánh. Bản thân Trương Ba cũng, rất “khó chịu vì phải sống trong thân xác không phải của tớ”. sau cùng ông đã quyết định trả lại thân xác cho anh hàng thịt và chấp thuận cái chết thực sự để giải thoát cho mình. Đoạn trích là đoạn kết, triệu tập phản ánh tư tưởng chủ đề của vở kịch : thảm kịch của con người khi bị đặt vào nghịch cảnh phải sống nhờ, sống tạm và trái tự nhiên khiến tâm hồn nhân hậu bị tha hóa trước sự việc lấn át của thân xác phàm tục, thô lỗ. Vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự giả tạo và dung tục, bảo vệ quyền được sống đích thực và khát vọng hoàn thiện nhân cách.

Ở đoạn này, điểm đỉnh của xích míc kịch đã được tác giả thể hiện qua sự dằn vặt, giằng xé đau đớn của hồn Trương Ba. Mở đầu là cảnh hồn Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi đứng vụt dậy, nói những câu đầy bực bội, bức xúc : Không ! Không ! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc ! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng để nó được tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!

Tiếp sau đó, hồn Trương Ba tách khỏi thân xác anh hàng thịt và cuộc đối thoại giữa hồn Và xác bắt đầu. Dưới lớp vỏ ngôn ngữ của những lời đối thoại là nhiều tầng nghĩa không giống nhau, tùy thuộc vào trình độ của người xem kịch. Lưu Quang Vũ rất để ý đến việc dùng ngôn ngữ để phản ánh tính cách và thực chất nhân vật. Xác hàng thịt lên tiếng với giọng điệu mỉa mai, chế giễu và phủ nhận những cố gắng giải thoát của hồn Trương Ba: Vở kịch, cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác Hồn Trương Ba đáp lại với thái độ vừa ngạc nhiên vừa coi thường, mày cũng biết nói kia à ? Vô lí, mà không thể biết nói. Mày không tồn tại tiếng nói mà chỉ là xác thịt âm u đui mù Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất kể con thú nào cũng đều có được : thèm ăn ngon, thèm rượu thịt.

Lưu Quang Vũ kế thừa tư tưởng của truyện cổ dân gian, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của linh hồn so với thân xác. Thế nhưng tác giả đã để cho cuộc tranh luận giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt không kém phần gay go, quyết liệt. Có những lúc tiếng nói của xác thịt đường như lấn át cả tiếng nói của linh hồn, đẩy linh hồn vào thế lúng túng, bị động: Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục! Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng chứ. Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ tôi mà ông hoàn toàn có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn mảnh đất cây cối, những người thân Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận trái đất này qua những giác quan của tôi Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thân xác Những vị lắm chữ nhiều sách như những ông hay vịn vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác Mỗi bữa tối đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào ? Lỗi là ở chỗ không tồn tại đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ Tôi thông cảm với những “trò chơi tâm hồn của ông tức là: Những lúc một mình một bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh, vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi. Làm xong điều xấu gì ông cứ việc đổ tội cho tôi, để ông được thanh thản. Tôi biết: Cần phải để cho tính tự ái của ông được vuốt nhẹ. Tâm hồn là thứ lắm sĩ diện, Hà hà, miễn là ông vẫn triển khai đủ mọi việc để thỏa mãn những thèm khát của tôi. Hồn Trương Ba tuy vẫn khăng khăng phủ nhận lí lẽ của xác hàng thịt: Lí lẽ của anh thật ti tiện, nhưng rõ ràng là đã lâm vào tình thế vô vọng và chỉ biết than: Trời!

Cả gia đình Trương Ba cũng bị cuốn vào thảm kịch bởi những điều lộn xộn, tréo ngoe do hồn một đằng xác một nẻo gây ra. Vợ Trương Ba thì trách móc anh xã : ông bây còn biết đến ai nữa ! Cu Tị ốm thập tử nhất sinh, từ đêm qua tới giờ bắt đầu mê man, mẹ nó khóc đỏ con mắt. Khổ! Thằng bé ngoan là thế ! Cái Gái thương bạn, ngơ ngẩn cả người Không hiểu thằng bé có qua khỏi được không, khéo mà Cái thân tôi thì sao trời lại không bắt đi cho rảnh ! Bà muốn bỏ nhà mà đi. Bà nói như khóc: Tôi nói thật đấy ông Trương Ba ạ, tôi đã nghĩ kĩ: hoàn toàn có thể tôi phải đi.. Đi cấy thuê làm mướn ở đâu cũng được đi biệt,. Để ông được thảnh thơi với cô vợ người hàng thịt.. Còn hơn là thế này Tôi biết, ông vẫn là người hết lòng thương yêu vợ con Chỉ tại giờ đây ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa

Cái Gái, đứa cháu nội yêu quý của Trương Ba cũng tỏ thái độ gay gắt: Tôi không phải là cháu của ông ! ông nội tôi chết rồi. Nếu ông nội tôi hiện về được, hồn ông nội tôi sẽ bóp cổ ông ! Ông dám nhận là ông nội, dám đụng vào cây cối trong vườn của ông nội tôi. Khi hồn Trương Ba cố gắng thanh minh: sáng nào ông cũng ra cuốc xới chăm chút cây cối ngoài vườn, cháu không thấy sao : Chỉ có ông nội cháu mới biết quý cây như thế thì cái Gái lại càng gào lên căm giận : Quý cây! Hừ, tôi phải rình lúc này, cả nhà đi vắng hết để đến nói với ông: Từ nay ông không được động vào cây cối trong vườn ông tôi nữa ! Ông mà quý cây à ? Sáng qua, tôi để ý lúc ông chiết cây cam, bàn tay giết lợn của ông làm gãy tiệt cái chồi non chân lông to bè như cái xẻng, giẫm lên nát cà cây sâm quý mới ươm Ị Ông nội tôi đời nào thô lỗ phũ phàng như vậy ?

Chị còn đâu của Trương Ba là người hiểu ông, thương ông nhất. Lúc đầu, chị chấp thuận tình cảnh trớ trêu của cha anh xã vì thân xác tuy là của anh hàng thịt thô kệch nhưng tâm hồn ông vẫn thuần hậu như xưa. Chị nói: Thầy vẫn dạy chúng con : Cái phía bên ngoài có quan trọng gì, chỉ có tấm lòng yêu thương và trí tuệ cao sáng của con người ta là đáng kể. Nhưng đến lúc này, chị cũng thấy vừa thương vừa sợ. Chị đau đớn, day dứt khi phải thật tình bộc bạch suy nghĩ của tớ với cha anh xã: thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy mỗi ngày thầy một khác dần, mất mát dần, toàn bộ cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có những lúc chính con cũng không nhận thấy thầy nữa Con càng thương thầy, nhưng thầy ơi, làm sao, làm sao giờ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia ? Làm thế nào, thầy ơi Ị Chị con dâu đã nhận được xét rất đúng, rất đầy đủ về tình cảnh nan giải của Trương Ba lúc này.

Lời nói của chị con dâu chứa đựng sự thực phũ phàng có tác dụng thức tỉnh hồn Trương Ba, thúc đẩy ông tới một sự lựa chọn một hành động đau xót nhưng quyết liệt. Đoạn độc thoại thể hiện sự dằn vặt khổ sở của hồn Trương Ba khi phải đối diện với chính mình, khi tự đề ra và reply những câu hỏi của lương tâm : Mày đã thắng thế rồi đó, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm đủ mọi cách để lấn át ta Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình ? “Chẳng còn cách nào khác”. Mày nói như thế hả ? Nhưng có thật ta không thể cách nào khác ? Không cần cái đời sống do mày mang đến. Không cần!

Để củng cố thêm quyết tâm, Trương Ba thắp nhang cầu khẩn sự giúp đỡ của vị tiên cờ Đế Thích và thổ lộ nỗi khổ tâm của tớ : Ông Đế Thích ạ! Tôi không thể tiếp tục mang thân xác anh hàng thịt được nữa, không thể được. Không thể bên trong một đằng, phía bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. Thế nhưng những lời giải thích của Đế Thích lại làm cho Trương Ba một phen bàng hoàng: Thế ông ngỡ toàn bộ mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? trong cả tôi đây. Ở phía bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữ, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất trên trời đều thế cả nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào, thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù nào của ông đâu Ị

Bàng hoàng nhưng Trương Ba vẫn như đang đắm mình trong dòng suy nghĩ, dằn vặt, thoáng chút trách móc: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần phải ghi nhận.

Sự giằng xé trong tâm trạng Trương Ba được tác giả vở kịch thể hiện tự nhiên, sinh động và chân thực. Muốn thoát khỏi tình huống khó xử và khó chịu như thế này, Trương Ba chị còn một cách là chấp thuận cái chết vĩnh viễn. Ông muốn Đế Thích trả lại thân xác cho anh hàng thịt để phần hồn sẽ sống hòa thuận với thân xác anh ta, để vợ anh ta không thể phải sống trong cảnh góa anh xã thật đáng thương. trong lúc, Đế Thích đang phân vân hỏi nếu làm như vậy thì hồn Trương Ba sẽ trú ở đâu, Trương Ba đã reply dứt khoát: Ở đâu cũng được chứ không ở đây nữa. Nếu ông không giúp, tôi sẽ tôi sẽ nhảy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ, lúc đó thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất. xích míc kịch được đưa lên cao hơn với chi tiết cu Tị con chị Lụa hàng xóm sắp chết. Cu Tị là bạn tri kỷ của cái Gái! cháu nội ông Trương Ba. Đế Thích nhân thời cơ này đề nghị Trương Ba nhập hồn vào xác cu Tị. Trương Ba suy nghĩ rất nhanh, hình dung rất nhanh về hậu quả của sự việc đó để rồi từ chối, bởi những rắc rối mà ông đang phải chịu đựng đã khiến ông cực kì khổ sở, khổ sở hơn là chết.

Thương Trương Ba con người hiền lành, đôn hậu và không muốn mất người bạn cờ tri âm tri kỉ nên Đế Thích vẫn cố gắng thuyết phục, nhưng Trương Ba khăng khăng không đổi ý : Tôi đã nghĩ kĩ.. Tôi không nhập vào hình thù ai nữa Ị Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn! Hành động trả lại thân xác cho anh hàng thịt của Trương Ba là hành động đúng đắn, dũng cảm và hợp đạo lí. Điều đó khẳng định rằng : Một linh hồn dù đẹp đẽ đến đâu nhưng phải cư ngụ trong một thân xác khác thì cũng không thể nào thấy thoải mái vì mặc cảm giả dối. Sống như thế thì không phải là sống theo đúng ý nghĩa sâu sắc của từ này mà chỉ là sự tồn tại đơn thuần mà thôi. Trương Ba chết nhưng tâm hồn đẹp đẽ của ông sẽ sống mãi trong tình yêu mến và nỗi tiếc nhớ của gia đình, bè bạn; làng xóm. Chết nhưng lại là vẫn sống.

Đoạn trích Hồn Trương Ba da hàng thịt triệu tập cao độ tính chất triết lí và tư tưởng nhân văn của vở kịch có nguồn gốc dân gian này. Lưu Quang Vũ đã đưa vào vở kịch quan niệm đúng đắn về cách sống: Trước hết, mình hãy là mình. Cuộc sống của cá nhân chỉ thực sự. Có ý nghĩa sâu sắc khi biết sống vì thú vui và hạnh phúc của mọi người vì sự đẹp đẽ của cuộc đời. Tư tưởng triết lí về con người của Lưu Quang Vũ vừa biện chứng vừa lạc quan, cao thượng. toàn bộ những điều đó được thể hiện bằng tài năng sáng tạo hiếm có của tác giả khiến vở kịch có sức lôi cuốn lạ thường đối với khán giả. Lưu Quang Vũ xứng đáng là nhà biên kịch xuất sắc của sân khấu Việt Nam hiện đại.

Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 5

Hồn Trương Ba, da hàng thịt được sáng tác theo hướng khai thác cốt truyện dân gian và gửi gắm những suy ngẫm về nhân sinh, về hạnh phúc, phối kết hợp phê phán một số tiêu cực trong lối sống hiện thời. Truyện dân gian gây kịch tính sau khi hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt dẫn tới “vụ tranh chấp” anh xã của hai bà vợ phải đưa ra xử, bà Trương Ba thắng kiện được đưa anh xã về. Lưu Quang Vũ khai thác tình huống kịch bắt đầu ở chỗ kết thúc của tích truyện dân gian. Khi hồn Trương Ba được sống “hợp pháp” trong xác anh hàng thịt, mọi sự càng trở thành rắc rối, éo le để rồi sau cùng đau khổ, vô vọng khiến Hồn Trương Ba không chịu nổi phải cầu xin Đế Thích cho mình được chết hẳn. Xây dựng tình huống và giải quyết xung đột như vậy, Lưu Quang Vũ đã gửi gắm một triết lí sâu sắc về lẽ sống, lẽ làm người: cuộc sống thật đáng quý, nhưng không phải sống thế nào cũng được. Nếu sống vay mượn, sống chắp vá, không tồn tại sự hài hòa giữa vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách và nhu cầu vật chất thì con người chỉ gặp thảm kịch mà thôi. Cuộc sống của mỗi con người chỉ thực sự hạnh phúc, chỉ có giá trị khi được sống đúng là mình, được sống tự nhiên trong một thể thống nhất. Đó là chủ đề tư tưởng chính của vở kịch.

Tài năng kịch của Lưu Quang Vũ thể hiện trên nhiều phương diện, tiêu biểu nhất là tài dựng cảnh và dựng đối thoại. Kịch tính căng ra trong những xung đột, những xích míc phía bên ngoài và bên trong nhân vật. Ngôn ngữ hành động và ngôn ngữ nội tâm được diễn tả sống động, lời thoại thấm đẫm triết lí nhân sinh.

Đoạn trích hoàn toàn có thể gọi là “Thoát ra nghịch cảnh” là cảnh cuối, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng “bên trong một đằng, phía bên ngoài một nẻo”, nhân vật hồn Trương Ba ngày càng trở thành xa lạ với bè bạn, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình. Hồn Trương Ba cảm thấy không thể sống trong “da” anh hàng thịt, không thế nối dài “nghịch cảnh” mãi được. Hồn muốn tách ra khỏi cái thân xác kềnh càng, thô lỗ. Trong tình trạng ấy; nhà văn đã sáng tạo khi dựng lên đoạn đối thoại giữa hồn và xác để rồi trước sự việc giễu cợt, mỉa mai của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba càng trở thành đau khổ, bế tắc. Thái độ cư xử của người thân trong gia đình càng khiến hồn vô vọng. Hồn Trương Ba đã châm hương gọi Đế Thích, hai bên đang đối thoại thì cu Tị chết. Đế Thích gợi ý để hồn rời xác anh hàng thịt sang xác cu Tị. Nhưng hồn Trương Ba, sau một “quãng đời” cực kì thấm thía, hình dung ra những “nghịch cảnh” khác khi phải sống trong thân xác một đứa bé đã quyết định xin cho cu Tị được sống và mình được chết hẳn.

Đúng là “nghịch cảnh” trớ trêu. Lưu Quang Vũ đã dựng lên hai cuộc đối thoại đặc sắc (đối thoại giữa hồn và xác và đối thoại giữa hồn và Đế Thích) cùng những đối thoại hỗ trợ khác (hồn với người vợ, với cái Gái, với chị con dâu) để đẩy xung đột nội tâm của hồn Trương Ba lên đến tận cùng từ đó ý nghĩ tư tưởng, những triết lí nhân sinh được phát biểu một cách sâu sắc, thấm thía.

Trước khi ra mắt cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt vực dậy” với cùng một lời độc thoại đầy khẩn thiết: Không! Không! Tỏi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi. ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”.

Rõ ràng, hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng cực kì bức bối, đau khổ. Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với cái ước nguyện khắc khoải của hồn đã nói lên điều đó. Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không thể là mình nữa. Trương Ba giờ đây đâu còn là một người làm vườn chăm chỉ, hết lòng thương yêu vợ con, quan tâm tới hàng xóm láng giềng như ngày trước. Ông Trương Ba được mọi người kính trọng đã chết rồi. Trương Ba giờ đây vụng về. thô lỗ, phũ phàng lắm. Người đọc. người xem càng lúc càng được thấy rõ điều đó qua những đối thoại và hồn Trương Ba cũng cáng lúc rơi vào trạng thái đau khổ, vô vọng.

Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối lí bởi xác nói những điều mà dù muốn hay không muốn hồn vẫn phải thừa nhận Đó là cái đêm khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với “tay chân run rẩy”, “hơi thở nóng rực”, “cổ nghẹn lại” và “suýt nữa thì…”. Đó là cảm giác “xao xuyến” trước những món ăn mà trước đây hồn cho là “phàm. Đó là cái lần ông tát thằng con ông “tóe máu mồm máu mũi”, … toàn bộ đều là thực sự. Xác anh hàng thịt gợi lại toàn bộ những thực sự ấy khiến hồn càng cảm thấy xấu hổ, cảm thấy minh ti tiện. Xác anh hàng thịt còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ông đưa ra để ngụy biện: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sáng, thẳng thắn.”. Trong cuộc đối thoại này, xác thắng vậy nên rất hể hả tuôn ra những lời thoại dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo, khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu. không chỉ có đau khổ, hồn còn xấu hổ trước những lời nói công khai minh bạch của xác mà trước đó hồn đã cảm thấy mà không muốn nói ra, không muốn thừa nhận.

Nỗi đau khổ, vô vọng của hồn Trương Ba càng được đưa lên khi đối thoại với những người thân.

Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết đòi bỏ đi. Với bà “đi đâu cũng được… còn hơn là thế này”. Bà đã nói ra cái điều mà chính ông cũng đã cảm nhận được: “ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”.

Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần thiết phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình cảm của ông: tôi không phải là cháu ông.. Ông nội tôi chết rồi. Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây nó không thể chấp thuận cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “to bè như cái xẻng” đã làm “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cụ Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó “ông nội đời nào, thô lỗ, phũ phàng như vậy”. Nỗi tức giận của cái Gái trở thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”.

Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương bố anh xã trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị không thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: “Thầy bảo con: Cái phía bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, toàn bộ cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có những lúc chính con cũng không nhận thấy thầy nữa..”.

toàn bộ những người thân yêu của hồn Trương Ba đều nhận thấy cái nghịch cảnh trớ trêu. Họ đã nói ra thành lời bởi với họ cái ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ khổ nhưng “cũng không khổ bằng giờ đây”.

Sau toàn bộ những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng phương pháp nói riêng, giọng nói riêng của tớ đã khiến hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính bản thân mình cứ lớn dần… lớn dần, muốn đứt từng, muốn vọt trào. Đặc biệt sau hàng loạt câu hỏi có vẻ vô vọng của chị con dâu: “Thầy ơi, làm sao. làm sao giữ được thầy ở lại. hiền hậu, vui vẻ tốt lành như thầy của chúng cơn xưa kia? Làm thế nào, thầy ơi?” thì đương nhiên hồn không thể chịu đựng thêm được nữa.

Nhà viết kịch đã để cho hồn Trương Ba sót lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ, vô vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát nhưng cũng đầy quyết liệt: “Mày đã thắng thế rồi đó, cái thân xác không phải của ta ạ.. Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng còn cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không thể cách nào khác? Có thật không thể cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.

Cuộc trò chuyện giữa hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của hồn trong cảnh này có một ý nghĩa sâu sắc đặc biệt quan trọng:

Không thể bên trong một đằng, phía bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn…

Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần phải ghi nhận!”.

Người đọc, người xem có thế nhận thấy những ý nghĩa sâu sắc triết lí sâu sắc và thấm thía qua hai lời thoại này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về phần mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của tớ, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng chênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.

Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật hồn Trương Ba là kết quả của một quy trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của tớ lại nhập vào xác cu Tị để sống và thấy rõ “bao nhiêu sự rắc rối” vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát. Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, đó là con người ý thức được ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống.

Cái chết của cu Tị có ý nghĩa sâu sắc đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ “mở nút”. Dựng tả quy trình đi đến quyết định dứt khoát của nhân vật hồn Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã đảm bảo được tính tự nhiên, hợp lí của tác phẩm.

không chỉ có có ý nghĩa sâu sắc triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, với tinh thần chiến đấu thẳng thắn của một nghệ sĩ hăng hái tham gia vào quy trình cải cách xã hội, trong vở kịch này nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số thể hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ. Thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chi thích hưởng thụ đến nỗi trở thành phàm phu, thô thiển. Nói như Chế Lan Viên trong một bài thơ đã từng cảnh báo “muốn nuôi sống xác thân đem làm thịt linh hồn”. Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm sóc thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn. Thực chất đây là thể hiện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, của sự lười biếng, không tưởng. Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán. Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi.

Cảm nhận Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt – Mẫu 6

Kịch là một loại hình nghệ thuật sân khấu phát triển mạnh mẽ ở việt nam từ thế kỉ XX. Đã có rất nhiều nhà soạn kịch và nhiều vở kịch thành công được ra mắt vào giai đoạn này. Và cái tên Lưu Quang Vũ đã không thể xa lạ đối với ai yêu kịch, vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” lại càng không thể là một chiếc tên mới.

Là một nhà soạn kịch, nhà thơ hiện đại Việt Nam, những tác phẩm của ông đã để lại dấu ấn đáng kể trong lòng khán giả. Gần 50 vở kịch của ông luôn được khán giả ủng hộ bởi tính chân thực và nhân văn của nó. Tác phẩm Hồn Trương Ba da hàng thịt được lấy từ cốt truyện dân gian. Nhưng không vì thế mà nó trở thành nhàm chán. Cái tài của tác giả đó đúng là ông đã sáng tạo ra tình huống trớ trêu, nỗi đau khổ dày vò Trương Ba khi phải sống trong xác anh hàng thịt. Và sau cùng đi đến một chiếc kết đầy tính nhân văn: Trương Ba được trở về với con người thật của tớ.

Tác phẩm được ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ XX. Đây là thời kỳ giang sơn ta đang trong công cuộc đổi mới, nhằm giải phóng sức lao động, phát huy sức sáng tạo của nhân dân Trong số đó có lực lượng cầm bút. Số phận con người, vấn đề cá nhân được khai thác mạnh. Những vấn đề nóng bỏng, chống tiêu cực trở thành cảm hứng cho nhiều nhà văn. Và Lưu Quang Vũ cũng không ngoại lệ. Với mục đích phê phán những tiêu cực lúc bấy giờ, ông đã viết vở kịch này. Những tiêu cực ấy được thể hiện rất rõ qua những xung đột trong đoạn trích. Theo ông, chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ muốn hưởng thụ trở thành phàm phu thô thiển. Ai cũng biết tâm hồn là quí, đời sống tinh thần là trọng nhưng không quan tâm đến đời sống vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn thì chỉ là thể hiện của chủ nghĩa duy tâm. Tình trạng con người phải sống giả, không dám được như bản thân đó là nguy cơ đẩy con người đến chỗ tha hóa do danh và lợi. Nếu sống vay mượn chắp vá, không hài hòa giữa tâm hồn, nhân cách và nhu cầu vật chất thì con người chỉ gặp thảm kịch mà thôi. Cuộc sống của con người thực sự có hạnh phúc có giá trị khi được sống là chính mình. Đó là toàn bộ những gì mà tác giả muốn truyền đạt đến người đọc, người nghe, người xem.

Ngay từ nhan đề, ta đã hoàn toàn có thể thấy được sự khập khiễng, xích míc. “Hồn” là phần tinh thần, là nội dung bên trong, là phần lí trí, tình cảm con người. Ở đây hồn Trương Ba là một người có lối sống thanh cao, nhân hậu, luôn đấu tranh với hoàn cảnh để được trở về với cuộc sống nguyên vẹn trong sáng thẳng thắn. “Xác” là phần vật chất, là hình thức phía bên ngoài. Trong vở kịch, xác anh Đồ tể mà hồn Trương Ba buộc phải cư ngụ. Từ nhan đề, tác giả đã gợi ra được sự vênh lệch, khấp khểnh giữa bên trong một đằng, phía bên ngoài một nẻo, một xích míc giữa nội dung và hình thức, giữa vật chất – tinh thần, lí trí – bản năng, con người – hoàn cảnh, thanh cao – phàm tục.

Qua cuộc đối thoại giữa hồn và xác, hồn Trương Ba đã bày tỏ sự chán ghét với cái xác mình nương nhờ, khinh bỉ hoàn cảnh mình đang sinh sống, khát khao sống nguyên vẹn, trong sáng, thẳng thắn. Nhưng đối lập với hồn, xác bị tác động bởi những dung tục tầm thường, đại diện cho kiểu người vừa chú trọng vật chất, bản năng, vừa là kiểu nhân vật đại diện cho nhiều người trong xã hội, quan tâm đến lợi ích của nhiều người đòi hỏi sự hài hòa giữa vật chất và tinh thần. thảm kịch của hồn là nhận thấy một con người cần phải hài hòa cả về vật chất, tinh thần, nhận thấy mình đã bị tha hóa. Tiếp theo trong những cuộc đối thoại với người thân, hồn bị người thân xa cách, nghi ngờ. Triết lý của vở kịch được thể hiện rõ qua cuộc đối thoại của Trương Ba với Đế Thích. Trương Ba bày tỏ khao khát được sống với chính mình, không nhờ vả, không giả dối, ông quyết định tìm tới cái chết chứ không chấp thuận nhập vào xác cu Tị. Kết của vở kịch có ý nghĩa sâu sắc triết lý sâu sắc, đó là sự gieo mầm cho những gì nguyên vẹn, trong sáng, thẳng thắn, là sự sống trong tâm hồn mỗi người. Trương Ba đúng là tấm gương về lòng nhân hậu, thanh cao.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *