Văn mẫu lớp 11: Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài Từ ấy của Tố Hữu gồm 3 dàn ý chi tiết kèm theo 6 bài văn mẫu hay. Qua đó giúp những bạn có thêm nhiều tư liệu tìm hiểu thêm, trau dồi vốn từ, có nhiều ý tưởng phát minh mới để viết văn ngày một hay hơn.

Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài Từ ấy của Tố Hữu

Từ ấy là bài thơ có ý nghĩa sâu sắc mở đầu và cũng đều có ý nghĩa sâu sắc như một tuyên ngôn về lẽ sống của một chiến sĩ cách mạng cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ. Bài thơ cũng là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước: thú vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm.

Phân tích lý tưởng sống của thanh niên qua bài Từ ấy

  • Dàn ý Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy
  • Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 1
  • Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 2
  • Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 3
  • Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 4
  • Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 5
  • Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 6

Dàn ý Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy

Dàn ý số 1

I. Mở bài:

  • Giới thiệu những nét khái quát nhất về tác giả Tố Hữu và bài thơ “Từ ấy”.
  • Giới thiệu khái quát vấn đề cần nghị luận: Lý tưởng của thanh niên ngày nay trải qua bài thơ “Từ ấy”.

II. Thân bài:

* Lý tưởng là gì?

– Lý tưởng là những mục đích sống đẹp đẽ, là lẽ sống, mục đích phấn đấu của mỗi người và từng ngày, từng giờ họ đang không ngừng cố gắng, nỗ lực để đạt được nó.

– Lí tưởng luôn có vai trò, ý nghĩa sâu sắc to lớn đối với toàn bộ mọi người, trong mọi thời đại.

* Lý tưởng của thanh niên ngày nay qua bài thơ “Từ ấy”

– Lí tưởng của thanh niên thể hiện rõ nét ở sự giác ngộ lý tưởng của người thanh niên trẻ tuổi.

  • Từ ấy đó là mốc thời gian, là giây phút hạnh phúc khi tác giả đón nhận được ánh sáng lý tưởng của Đảng, được đứng vào hàng ngũ của Đảng.
  • Hình ảnh “mặt trời chân lý” là một hình ảnh ẩn dụ, Đảng đó là mặt trời, là ánh sáng tuyệt diệu soi sáng, dẫn đường, chỉ lối cho giai cấp vô sản, cho nhân dân đến những ngày tháng tươi đẹp.
  • Giây phút ấy, với người thanh niên hiện lên bao nỗi niềm rạo rực lên niềm sung sướng, hạnh phúc đến khôn nguôi.

– Lí tưởng ấy thứ nhất được thể hiện ở lẽ sống đẹp đẽ, sống chan hòa, đoàn kết với mọi người, hòa cái tôi cá nhân vào trong cái ta chung của cả xã hội, dân tộc.

  • Động từ “buộc” đã thể hiện sự tự nguyện gắn bó, thắt chặt với những người xung quanh.
  • những từ láy “trang trải”, “gần gũi” đã thể hiện sự mở lòng, mở rộng trái tim, vòng tay của tôi để thấu hiểu, để cảm thông, để gắn bó với mọi người.

– Lí tưởng của người thanh niên qua bài thơ “Từ ấy” còn được thể hiện ở lối sống yêu thương đồng bào, không phân biệt giai cấp, dân tộc.

  • Sử dụng cấu trúc khẳng định “đã là” đã thể hiện ý thức tự giác và sự chắc chắn trong tác giả.
  • Sử dụng phép liệt kê “con của vạn nhà’, “em của vạn kiếp phôi pha”, “anh của vạn đầu em nhỏ” phối kết hợp với điệp từ là và những từ ngữ xưng hô “con”, “em”, “anh”, nhà thơ đã cụ thể hóa mối quan hệ của tôi với những thành viên trong gia đình.

III. Kết bài:

 Khái quát lại vấn đề nghị luận và nêu cảm nhận của bản thân.

Dàn ý số 2

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Tố Hữu, bài thơ Từ Ấy và lý tưởng sống được thể hiện qua bài thơ.
Lưu ý: học viên lựa lựa cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân.

2. Thân bài

a. Phân tích bài thơ Từ ấy

  • Khổ thơ đầu: sự giác ngộ lí tưởng cách mạng của tác giả khi được ánh sáng của Đảng và nhà nước soi sáng. Thể hiện thú vui sướng cực độ khi được đứng trong hàng ngũ danh dự của Đảng; chiến đấu vì mục tiêu và lí tưởng cao đẹp.
  • Khổ thơ thứ hai: tác giả thể hiện sự gắn bó keo sơn, bền chặt của bản thân với cuộc đời, với những kiếp người đau khổ ngoài kia để cùng nhau góp sức tạo thành một khối đại đoàn kết dân tộc cực kì vững mạnh, bền chặt.
  • Khổ thơ sau cùng: tự nhận mình có mối quan hệ thân thiện, gắn bó với những con người trên khắp mọi miền giang sơn, cù bất cù bơ không nơi nương tựa, đâu đâu cũng là nhà, cũng là anh em.

→ Tư tưởng của một con người giàu lòng yêu nước, hướng về đại chúng, về mọi người, luôn khao khát được sống, được chiến đấu vì mọi người và bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc.

b. Lí tưởng sống của thanh niên hiện nay

  • Ngày nay chúng ta – những người trẻ tuổi đang được sống trong một giang sơn yên bình, một thế hệ không tồn tại chiến tranh.
  • Để tiếp nối lí tưởng, truyền thống của cha ông đi trước, chúng ta phải cố gắng học tập, rèn luyện bản thân để xứng đáng với thành quả đang được thừa hưởng.
  • Mỗi một người trẻ hãy sống có tư duy, có lí tưởng, chan hòa, yêu thương, đoàn kết với mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn hoạn nạn.

3. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm đồng thời liên hệ bản thân.

Dàn ý số 3

1. Mở bài

Giới thiệu bài thơ “Từ ấy” và Tố Hữu.

2. Thân bài

– Sự giác ngộ lí tưởng Đảng của chàng thanh niên (hai câu đầu).

– Những cảm xúc khát khao mãnh liệt của người thanh niên sau khi giác ngộ lí tưởng (hai câu tiếp).

– Lí tưởng sống mà người thanh niên hướng tới:

  • Sống vì xã hội, sống chan hòa, đoàn kết, yêu thương (khổ 2).
  • Không phân biệt giai cấp, sống yêu thương đồng bào như máu thịt (khổ 3).
  • Liên hệ tới thế hệ trẻ ngày nay.

3. Kết bài

Khẳng định lí tưởng của người thanh niên trong bài là lí tưởng cao đẹp, vĩ đại, là một trong những yếu tố tiên quyết trong thắng lợi dân tộc.

Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 1

Tố Hữu là một trong số những cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng. Suốt cả cuộc đời gắn bó với cách mạng, những trang viết của Tố Hữu luôn ánh lên những tư tưởng lớn, tình cảm và lẽ sống lớn. Bài thơ “Từ ấy” ra mắt năm 1938 là một trong số những sáng tác xuất sắc nhất của ông. Bài thơ đã thể hiện rõ lý tưởng của người thanh niên ngày nay.

Như chúng ta đã biết, lý tưởng là những mục đích sống đẹp đẽ, là lẽ sống, mục đích phấn đấu của mỗi người và từng ngày, từng giờ họ đang không ngừng cố gắng, nỗ lực để đạt được nó. Lí tưởng luôn có vai trò, ý nghĩa sâu sắc to lớn đối với toàn bộ mọi người, trong mọi thời đại.

Từ cách hiểu, cách lý giải đó rất có thể dễ dàng nhận thấy bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu đã thể hiện một cách rõ nét, chân thực và sâu sắc lí tưởng sống đẹp đẽ của thanh niên ngày nay.

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim

Từ ấy đó là mốc thời gian, là giây phút hạnh phúc khi tác giả đón nhận được ánh sáng lý tưởng của Đảng, được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Hình ảnh “mặt trời chân lý” là một hình ảnh ẩn dụ độc đáo và giàu ý nghĩa sâu sắc. Nếu mặt trời của thiên nhiên chiếu ánh sáng tới muôn loài, muôn vật thì Đảng đó là mặt trời, là ánh sáng tuyệt diệu soi sáng, dẫn đường, chỉ lối cho giai cấp vô sản, cho nhân dân đến những ngày tháng tươi đẹp. Giây phút ấy, với người thanh niên, Đảng đó là lí tưởng, là ánh sáng và trong nỗi niềm rạo rực lên niềm sung sướng, hạnh phúc đến khôn nguôi.

Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

Với hình ảnh so sánh độc đáo, có vẻ như hai câu thơ đã làm bật nỗi niềm sung sướng, thú vui như đã hóa thành âm thanh, màu sắc của tác giả khi bắt gặp lí tưởng của đời mình.

không chỉ là xác định được lí tưởng của tôi, người thanh niên trong “Từ ấy” của Tố Hữu còn nỗ lực biến lý tưởng ấy thành hiện thực, thành nhận thức của bản thân. Lí tưởng ấy thứ nhất được thể hiện ở lẽ sống đẹp đẽ, sống chan hòa, đoàn kết với mọi người, hòa cái tôi cá nhân vào trong cái ta chung của cả xã hội, dân tộc.

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Tố Hữu đã thể hiện lẽ sống gắn với xã hội, với mọi người bằng hàng loạt những từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị và sức gợi. Động từ “buộc” đã thể hiện sự tự nguyện gắn bó, thắt chặt với những người xung quanh. Cùng với đó, tác giả còn sử dụng những từ láy “trang trải”, “gần gũi” đã thể hiện sự mở lòng, mở rộng trái tim, vòng tay của tôi để thấu hiểu, để cảm thông, để gắn bó với mọi người. Như vậy, trong lí tưởng sống của tôi, người thanh niên đã hòa vào cái chung của xã hội, để đoàn kết, để yêu thương.

Thêm vào đó, lí tưởng của người thanh niên qua bài thơ “Từ ấy” còn được thể hiện ở lối sống yêu thương đồng bào, không phân biệt giai cấp, dân tộc.

Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ

Từ tình yêu thương, muốn gắn bó với nhân dân lao động, tác giả đã biến mình thành một người con trong tỷ phú đình lao động ấy. Với việc sử dụng cấu trúc khẳng định “đã là” đã thể hiện ý thức tự giác và sự chắc chắn trong tác giả. Không dừng lại ở đó, nhà thơ còn cụ thể hóa mối quan hệ của tôi với những thành viên trong gia đình trải qua việc sử dụng phép liệt kê “con của vạn nhà’, “em của vạn kiếp phôi pha”, “anh của vạn đầu em nhỏ” phối kết hợp với điệp từ là và những từ ngữ xưng hô “con”, “em”, “anh”.

Như vậy, rất có thể thấy, bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu đã thể hiện một cách chân thực và rõ nét những lí tưởng của thanh niên trong mọi thời đại. Đồng thời, qua đó cũng gợi lên trong chúng ta nhiều bài học đáng suy ngẫm về lí tưởng sống, về mục đích sống và sự nỗ lực, cố gắng của bản thân.

Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 2

Tố Hữu vừa là nhà cách mạng quả cảm, một Đảng viên ưu tú, một nhà thơ cách mạng tiêu biểu của nhân dân trong những năm kháng chiến chống Pháp. Thơ ông giản dị nhưng nồng nàn tinh thần cách mạng và lòng tự hào dân tộc. Bài thơ “Từ ấy” được in trong tập thơ cùng tên xuất bản năm 1938 đã tỏ rõ lí tưởng Đảng cao đẹp của người thanh niên trẻ tuổi trẻ lòng ấy.

Người thanh niên này được giác ngộ lý tưởng Đảng từ khi còn rất sớm, năm mười tám tuổi đã được kết nạp Đảng, với cùng một độ tuổi mang trong mình nhiều nhiệt huyết can trường của tuổi trẻ, anh đã đón nhận ánh sáng của cách mạng như đón những luồng ánh sáng của thần linh:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim

“Từ ấy” ở đây đó là từ khi ánh sáng cách mạng về với nhân dân, xóa tan đi mọi sương mờ chính trị trước đó. Từ đây nhân dân hiểu được cách mạng, tìm được chỗ dựa tinh thần cho niềm tin vào công cuộc giải phóng dân tộc và được sống trong không khí hào hứng xung trận của thời đại “vì dân quên mình”. Ánh sáng ấy bắt nguồn từ mặt trời chân lý, đó là Đảng, là mặt trời của giai cấp vô sản, mặt trời vĩnh cửu của nhân dân, mặt trời chói chang cái nắng hạ ấm cúng và hừng hực lửa quyết chiến quyết thắng. Trong tim của người thanh niên trẻ chỉ có tràn đầy một sinh lực duy nhất đó là lí tưởng Đảng, chính lý tưởng đấy là động lực và niềm tin để anh trải lòng với cuộc đời và yêu thêm cuộc sống, để mà:

Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim...

Hẳn lúc này, trong lòng người thanh niên đang rạo rực những tình cảm mới, xanh tươi, thơm mát, rộn ràng. Đâu còn cái u sầu của lớp thanh niên trí thức thời đại đang loay hoay không biết kiếm tìm đâu ra còn đường đúng đắn nữa mà chỉ còn một tâm hồn xốn xang những cảm xúc yêu đời, hạnh phúc đắm mình trong ánh sáng của Đảng. Ánh sáng ấy đã khiến trong người thanh niên có những suy nghĩ tươi đẹp, đó là lí tưởng sống cao đẹp, lẽ sống lớn với tình cảm lớn:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Từ “buộc” được sử dụng thật tinh ý. Có lẽ sợi dây link giữa mọi người giờ đây đó là sợi dây đồng chí hướng của Đảng của cách mạng, tâm hồn của con người đã không hề thấy đâu cái vị kỷ cá nhân nữa mà hoàn toàn được “trang trải” rộng rãi khắp nơi nơi, sống chan hòa, yêu thương, để đoàn kết “thêm mạnh khối đời”. Đảng Cộng Sản là sự đoàn kết của giai cấp vô sản, lí tưởng cao đẹp của những con tình nhân nước, được giác ngộ điều này, người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi đã tự coi mình là:

Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ…

Ở khổ thơ cuối ta nhận thấy sự từ chối phân biệt giai cấp trong một tâm hồn tràn ngập tình thân. Những từ: “con”, “em”, “anh” được thốt ra hết sức thân thiện đã đánh tan rào cản giai cấp. Dưới sự bảo bọc của Đảng, đồng bào là anh em máu thịt một nhà, không phân biệt ai với ai cần yêu thương nhau, chở che, đùm bọc lẫn nhau, thậm chí không ngại hy sinh vì bảo vệ dân tộc.

Giọng thơ nở tràn như lời thiết tha tâm tình với ý tứ xô bồ, giàu lí tưởng như ngọn lửa đang thôi thúc trong tim của người thanh niên Cộng sản. Người thanh niên ấy từ nay đã hiểu hết ánh sáng cao quý mà Đảng muốn trảo chuyền, anh đã coi mình là người của toàn dân, coi đồng bào là máu thịt tình thân, coi giai cấp đã không hề tồn tại trên đời, thứ duy nhất tồn tại là lí tưởng sống cao đẹp, lẽ sống lớn vì một xã hội dân tộc. với cùng một tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết và năng lượng bùng cháy khát khao sống hết mình vì cuộc đời chung như vậy, có lẽ cái chết đối với những người thanh niên như vậy chỉ nhẹ tựa lông hồng khi hồn họ đã buộc với nhân dân, buộc với cách mạng, hy sinh cho tổ quốc đối với họ là tự hào, là lẽ sống. Lí tưởng lớn ấy đã thôi thúc những tinh thần thanh niên thời đại xung trận, đem hết tinh hoa, trí lực của tôi vào công cuộc giải phóng giang sơn và là niềm tự hào mãi mãi cho thế hệ sau.

Lí tưởng sống của người thanh niên thật cao quý, lớn lao, là lí tưởng muôn đời không phai và đây đó là sức mạnh cực kì nòng cốt trong trận chiến ác liệt giữa ta và địch. Có những thanh niên giàu lí tưởng như vậy, lí tưởng của toàn dân tộc ta mới rực sáng như ánh mặt trời, đẩy tan mọi bóng tối của quân xâm lược.

Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 3

Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng và phản ánh chân thực những chặng đường cách mạng Việt Nam. Bài thơ Từ ấy rút từ tập thơ cùng tên của tác giả ghi nhận những kỉ niệm đáng nhớ với những cảm xúc, suy tư. sâu sắc của nhà thơ khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng. thú vui, niềm cảm xúc chân thành của Tố Hữu gợi cho người đọc cùng phấn đấu vì một lý tưởng đẹp.

Tố Hữu viết Từ ấy năm 1937, khi nhà thơ được kết nạp Đảng. Với Tố Hữu, được đứng trong hàng ngũ của Đảng, được giác ngộ lý tưởng cộng sản là một thú vui niềm hạnh phúc lớn:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim.

Từ ấy lưu lại thời điểm quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu. Là một thanh niên. Tố Hữu đã có sự gặp gỡ may mắn và đẹp đẽ với lý tưởng cách mạng. Với Tố Hữu phút giây ấy, ánh sáng cách mạng bùng cháy mãi và ngày một sáng rực hơn. Nó là tia nắng hạ. là mặt trời chân lí chói qua tim. Hình ảnh “Mặt trời chân lí chói qua tim” là một ẩn dụ tượng trưng cho lý tưởng cộng sản. Nhà thơ ví lí tưởng cộng sản là mặt trời chân lý – nguồn ánh sáng vĩ đại làm bừng sáng cả trí tuệ và trái tim nhà thơ.

Được cách mạng soi đường, chỉ lối, Tố Hữu đã tự nguyện gắn bó với nhân dân, với những người cần lao:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Nhà thơ “buộc lòng” mình với mọi người để sống cuộc sống cùng mọi người, đế truyền cho họ ngọn lửa cách mạng. Sự lặp lại cấu trúc trong khổ thơ đã diễn tả sự gắn bó chân thành của người thanh niên cộng sản với nhân dân lao động. Bài thơ ngắn nhưng đã thể hiện được toàn bộ thú vui của tác giả khi được gặp gỡ ánh sáng lý tưởng của Đảng cùng sự hoà mình vào cuộc sống của nhân dân. Và càng sâu sắc hơn, bài thơ còn gợi cho ta suy nghĩ về lí tưởng sống của thanh niên hiện nay.

Lí tưởng là mục đích sống cao đẹp và hoài bão lớn lao mà con người phấn đấu để hướng tới. Lí tưởng sống có ý nghĩa sâu sắc và vai trò quan trọng đối với mỗi người, đặc biệt là thanh niên hiện nay. Vì thanh niên là lực lượng quan trọng, là cánh tay đắc lực, là đội hậu vệ tiên phong của Đảng. Thanh niên sống có lí tưởng tức là thanh niên đã xác định được con đường đi đúng đắn cho mình và có ý thức, trách nhiệm đối với giang sơn.

Khi giang sơn còn chìm trong đêm dài nô lệ, thì lí tưởng sống cao đẹp nhất của thanh niên là “đấu tranh giải phóng dân tộc”. Điều này lí giải vì sao, suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc có biết bao nhiêu thanh niên đã xả thân vì lý tưởng cao đẹp của giang sơn. Người này ngã xuống, người sau lại đứng lên kế tục sự nghiệp cách mạng. Nhưng khi giang sơn hoà bình thì lý tưởng cao đẹp nhất của thanh niên lại là xây dựng và bảo vệ giang sơn. Muôn xây dựng và bảo vệ giang sơn, mỗi thanh niên phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ về mọi mặt, trau dồi phẩm chất đạo đức, mạnh dạn tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; tích cực đấu tranh với cái cũ, cái lỗi thời, cái xấu, cái ác… Có như vậy thanh niên mới rất có thể hội nhập được với toàn cầu, kiên định được mục tiêu mà mình đã lựa chọn.

Nhà văn Lép Tôn-xtôi từng nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. không tồn tại lí tưởng thì không tồn tại phương hướng kiên định, mà không tồn tại phương hướng thì không tồn tại cuộc sống” để nhắc nhở mỗi người hãy biết xác định lý tưởng sống cho mình để có cuộc sống đúng với ý nghĩa sâu sắc của nó. Có lí tưởng sống cao đẹp, mỗi người, đặc biệt là thanh niên sẽ có những đóng góp tích cực, có ý nghĩa sâu sắc lớn lao đối với xã hội.

Tôi đã từng ngưỡng mộ trước nhiều thế hệ thanh niên dám xả thân vì nghĩa lớn. Tôi cũng đã từng ngưỡng mộ trước nhiều thanh niên tài năng vắt trí tuệ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôi cũng đã từng ngưỡng mộ trước những thanh niên dù có số’ phận xấu số nhưng vẫn sống vì lý tưởng cao đẹp như anh Nguyễn Ngọc Sơn, tác giả cuốn nhật kí Xin đừng khóc nữa mẹ ơi, hay anh Nguyễn Công Hùng dù tàn tật nhưng vẫn đi lên bằng tài năng, trí óc của tôi… Vậy lí tưởng sống có vai trò thế nào đối với thanh niên, với những người còn thiếu kiên định?

Lí tưởng sống không chỉ là giúp thanh niên hiểu và tiến hành trách nhiệm của tôi đối với giang sơn mà còn định hướng con đường đi cho thanh niên. Khi xác định được lí tưởng sống đẹp, những bạn sẽ dám chinh phục những đỉnh cao phía trước, đẩy lùi được con người bé nhỏ của tôi, thắng lợi sự tầm thường để hướng tới những điều đẹp đẽ hơn.

Đại đa số thanh niên hiện nay, nhờ sự giáo dục tốt, từ gia đình, nhà trường và xã hội đã xác định được lí tưởng cho riêng mình. Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ thanh niên vẫn vẫn chưa chắc chắn thế nào là lí tưởng sống, vẫn chưa tìm cho mình con đường đi đúng đắn trong tương lai. Họ sống buông thả, sống ăn chơi, đua đòi, không lo học hành nên rất đơn giản sa vào những tệ nạn xã hội. Họ rất cần được sự quan tâm hơn của gia đình và xã hội, giúp họ có những định hướng tốt cho tương lai.

Hơn ai hết, là những thanh niên thế hệ Bác Hồ. chúng ta phải xác định cho mình mục đích, lí tưởng sống cao đẹp. Bởi “Nếu không tồn tại mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì lớn lao nếu mục đích của anh tầm thường” (Đi-đơ-rô).

Tóm lại, qua bài thơ Từ ấy của Tố Hữu ta không chỉ là hiểu được thú vui, niềm hạnh phúc lớn lao của người thanh niên yêu nước khi được lý tưởng cách mạng soi đường mà từ bài thơ ta có cái nhìn đúng đắn hơn về lí tưởng của thanh niên hiện nay. Trên cơ sở đó mỗi người chúng ta sẽ biết xác định cho mình lí tưởng sống cao đẹp nhất, phấn đấu để tiến hành được lí tưởng mà mình đã lựa chọn.

Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 4

Trong nền văn học Việt Nam, Tố Hữu được coi là “lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng”. Từ một thanh niên trí thức tiểu tư sản, được giác ngộ lý tưởng, Tố Hữu trở thành một chiến sĩ cộng sản. Thơ Tố Hữu gắn với cuộc sống cách mạng và chính trị, thời sự giang sơn. những tác phẩm chính: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa,…

Từ ấy (1937 – 1946) là chặng đường đầu của thơ Tố Hữu. Tập thơ gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng. Bài thơ Từ ấy là bài thơ có ý nghĩa sâu sắc mở đầu và cũng đều có ý nghĩa sâu sắc như một tuyên ngôn về lẽ sống của một chiến sĩ cách mạng cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ. Bài thơ là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước: thú vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm,…

Tâm trạng nhà thơ có sự vận động qua ba khổ thơ: thú vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng (khổ 1); những nhận thức mới về lẽ sống (khổ 2); sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm.

Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, những biện pháp tu từ gợi cảm và ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

Hai câu thơ mở đầu trong khổ thơ 1 được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim

Từ ấy là cái mốc thời gian có ý nghĩa sâu sắc đặc biệt quan trọng trong đời cách mạng và đời thơ của Tố Hữu. Khi đó nhà thơ mới 18 tuổi, đang hoạt động tích cực trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế, được giác ngộ lý tưởng cộng sản, được kết nạp vào Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ: nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim, Tố Hữu khẳng định lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy không phải là ánh thu vàng nhẹ hay ánh xuân dịu dàng mà là ánh sáng rực rỡ của một ngày nắng hạ. Hơn thế, nguồn sáng ấy còn là mặt trời, và là mặt trời khác thường, mặt trời chân lí – một sự link sáng tạo giữ hình ảnh và ngữ nghĩa. Mặt trời của thiên nhiên đem lại cho nhân gian ánh sáng, hơi ấm, sự sống thì Đảng cũng là nguồn sáng kì diệu tỏa ra những tư tưởng đúng đắn, hợp lẽ phải, báo hiệu những điều tốt lành cho cuộc sống. Cách gọi lí tưởng như vậy thể hiện thái độ thành kính, ân tình. Thêm nữa, những động từ “bừng”, (chỉ ánh sáng phát ra đột ngột), “chói” (ánh sáng có sức xuyên mạnh) càng nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng, tình cảm.

Ở hai câu sau, bút pháp trữ tình lãng mạn, cùng với hình ảnh so sánh đã diễn tả cụ thể thú vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cộng sản. Đó là một toàn cầu tràn đầy sức sống với hương sắc của những loài hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với khu vườn hoa lá ấy, còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời? Đối với tâm hồn người thanh niên đang “do dự đi tìm lẽ yêu đời”, còn gì quý giá hơn khi có một lý tưởng như có cây hoa lá đón ánh sáng mặt trời, chính lý tưởng cộng sản đã làm tâm hồn con người tràn đầy sức sống và niềm yêu đời làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa sâu sắc hơn. Tố Hữu là một nhà thơ nên vẻ đẹp và sức sống mới ấy tâm hồn cũng là vẻ đẹp và sức sống mới của hồn thơ. Cách mạng không đối lập với nghệ thuật mà đã khơi dậy sức sống, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ.

Ở khổ thơ thứ hai, trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần tôn vinh cái tôi cá nhân chủ nghĩa. Khi được giác ngộ lý tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống và sự gắn bó hài hòa “cái tôi” cá nhân và” cái ta” chung của mọi người. Với động từ “buộc”, câu một là một cách nói quá thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của “cái tôi” cá nhân để sống chan hòa với mọi người (“trăm nơi” là một hoán dụ chỉ mọi người sống ở khắp nơi). Với từ “trang trải” ở câu 2, rất có thể liên tưởng tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể.

Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người của Tố Hữu không phải là thứ tình thương chung chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp. Câu 3 khẳng định trong mối liên hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Ở câu 4, “khối đời” là một ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, đoàn kết chặt chẽ với nhau cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. rất có thể hiểu: khi “cái tôi” chan hòa trong “cái ta”, khi cá nhân thả mình vào tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh của mỗi người sẽ được nhận lên gấp bội.

Tóm lại, Tố Hữu đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ, ở đấy Tố Hữu đã tìm thấy thú vui và sức mạnh mới không chỉ là bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim. Qua đó, Tố Hữu cũng khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và cuộc sống, mà chủ yếu là cuộc sống của quần chúng nhân dân.

Trước khi được giác ngộ lý tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản không chỉ là giúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn giúp nhà thơ vượt qua tình cảm ích kỷ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ. Hơn thế, đó còn là tình thân yêu ruột thịt. Những điệp từ “là” cùng với từ “con” “em”, “anh” và số từ ước lệ “vạn” (chỉ số lượng hết sức đông đảo) nhấn mạnh, khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết, cho thấy nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bản thân mình là một thành viên của tỷ phú đình quần chúng lao khổ. Tấm lòng đồng cảm, xót thương của nhà thơ còn biểu lộ thật xúc động, chân thành khi nói tới những “kiếp phôi pha” (những người đau khổ xấu số, những người lao động vất vả, thường xuyên dãi dầu mưa nắng để kiếm sống) những em nhỏ “không áo cơm cù bất, cù bơ” (những em bé không nơi nương tựa phải lang thang vất vưởng, nay đây mai đó). Qua những lời thơ ấy, người đọc thấy lấy được lòng căm hận của nhà thơ trước bao bất công, ngang trái của cuộc đời cũ. Chính vì những kiếp phôi pha, những em nhỏ cù bất cù bơ ấy mà người thanh niên Tố Hữu hăng say hoạt động cách mạng, và họ cũng trở thành đối tượng sáng tác chủ yếu của nhà thơ (cô nàng giang hồ trong Tiếng hát sông Hương; chú bé đi ở trong Đi đi em; ông lão khốn khổ trong Lão nô lệ; em bé bán bánh trong Một tiếng rao đêm,…).

Đến đây rất có thể thấy, về quan điểm nhận thức và sáng tác, bài thơ là tuyên ngôn cho tập Từ ấy nói riêng và cho toàn bộ tác phẩm của Tố Hữu nói chung. Cần nói rõ: đó là quan điểm của giai cấp vô sản với nội dung quan trọng là nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa cá nhân với quần chúng lao khổ, với nhân loại cần lao.

Từ ấy là lời tâm nguyện của thanh niên yêu nước giác ngộ và say mê lý tưởng cách mạng. Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, bằng những biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhạc điệu. Từ ấy lưu lại một thời điểm quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu và trong sự nghiệp thơ ca của ông. Bài thơ không ngừng hấp dẫn độc giả những thế hệ.

Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 5

Bài thơ “Từ ấy” – Tố Hữu được viết năm 1938, bài thơ là tiếng lòng của một người cách mạng trên con đường đi tìm lẽ sống thì gặp được ánh sáng của Đảng, của Bác. Bài thơ còn thể hiện thú vui, niềm hạnh phúc dâng trào và sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của chính tác giả.

Bài thơ được viết trong tầm thời gian (1937 – 1946), đây là thời gian đầu Tố Hữu tham gia cách mạng, trở thành một người chiến sĩ. “Từ ấy” là bài thơ được viết trong giai đoạn này, cũng là bài thơ lưu lại sự trưởng thành trong tâm hồn tác giả.

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim

“Từ ấy” chỉ một mốc thời gian, mốc son lưu lại sự thay đổi lớn trong cuộc đời Tố Hữu khi bắt gặp được lý tưởng sống cho chính cuộc đời mình. Đó còn là tiếng reo hò sung sướng tột bậc, niềm hạnh phúc ngập tràn khi trở thành một người cách mạng, được ánh sáng của Đảng và Bác dẫn đường. Nhà thơ đã mô tả nó như “nắng hạ”, như ánh sáng sáng rực rỡ, chói chang của mùa hè, soi tỏa vào trong chính trái tim đang sôi sục tuổi trẻ của nhà thơ. Ánh sáng đó được ẩn dụ như hình ảnh “mặt trời”. Nếu như mặt trời thật đem lại ánh sáng ấm cúng cho vạn vật, là nguồn sống cho muôn loài, thì “mặt trời chân lý”, mặt trời của Đảng xuất hiện đã xua tan màn sương mù tối tăm, đem lại một lẽ sống mới không chỉ là cho chính tác giả, còn cho cả dân tộc Việt Nam, đang chìm đắm trong đói khổ với tư tưởng tiểu tư sản. Tố Hữu đã sử dụng những động từ mạnh như “bừng, chói” để diễn tả một cách mạnh mẽ tác động to lớn cho ánh sáng của Đảng khiến cho người cách mạng như bừng tỉnh sau những ngày tăm tối.

Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Sự chuyển biến sâu sắc đó, như một sức mạnh kỳ diệu, nó được bắt nguồn từ chính con người tác giả khi được Đảng soi đường, chỉ lối. Khiến cho tâm hồn của người chiến sĩ trẻ như rộn ràng, tràn đầy sức sống. Nhà thơ đã so sánh nó như “một vườn hoa lá” với đủ sắc hương của đất trời, cả sự sống đang sinh sôi, nảy nở, nhảy múa hát ca, rộn ràng tiếng chim hót. có vẻ như sau những ngày tăm tối, không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời, không được nhìn thấy tương lai, cùng với khi huyết của tuổi trẻ mong muốn được thay đổi, được góp sức cho giang sơn đánh đuổi giặc ngoại xâm thì giờ đây khi có “mặt trời chân lý” của Đảng dẫn dắt làm cho tâm hồn nhà thơ trẻ lại, sục sôi ý chí đấu tranh, khơi dậy sức sống và cảm hứng sáng tạo mới cho tác giả

Ở khổ thơ thứ hai, từ sau khi gặp được chân lý của cuộc đời mình nhà thơ đã có những sự thay đổi đặc biệt trong nhận thức, trong con đường làm cách mạng của tôi

Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
ần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Trước khi được trở thành một nhà cách mạng, được giác ngộ lý tưởng mới thì Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Với tư tưởng tiểu nông hạn hẹp thì giờ đây nhà thơ đã có cách nhìn nhận mới trong suy nghĩ. Nhà thơ đã bỏ qua sự hẹp hòi của tư tưởng cũ, vượt qua những rào cản định nghĩa của giai cấp để thấu hiểu quần chúng khổ lao. Đây là không phải là sự ép buộc mà nhà thơ đã tự nguyện “buộc”, tự nguyện gắn mình với “mọi người”, với những tầng lớp bần hàn của xã hội. Đem trái tim mình hòa cùng nhịp đập, cùng đau tiếng đau của đồng bào, cùng sẻ chia những mất mát, đắng cay ngọt bùi mà nhân ta đang chịu đựng. Nhà thơ mong muốn gây dựng những con người đang chịu cảnh nô lệ trở thành “khối đời” một khối thống nhất, như anh em ruột thịt, tạo thành một sức mạnh tập thể, không gì rất có thể đàn áp được

Bốn câu thơ cuối thể hiện rõ tấm lòng, sự đồng cảm của chính nhà thơ, lời khẳng định trong con đường làm cách mạng

Tôi là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ

Nhà thơ đã sử dụng điệp từ, cùng với những “con, em, anh”, như một sự khẳng định chắc chắn sự gắn bó giữa mình với nhân dân lao động. nhà thơ như một thành viên trọng gia đình của mọi tầng lớp trong xã hội. Tố Hữu thả mình cùng với nhân dân. Nhà thơ tự nguyện làm “con của vạn nhà, em của vạn kiếp phôi pha, anh của vạn đầu em nhỏ”, nguyện mang cả cuộc đời mình để đem lại hạnh phúc cho những mảnh đời xấu số, những kiếp sống mòn mỏi trong vô vọng, những đứa bé tội nghiệp. Qua đó, ta còn cảm nhận được sự thù ghét sâu sắc trong lòng tác giả đối với những cảnh bất công trong xã hội, chính những mảnh đời đáng thương đó mà nhà thơ đi theo cách mạng, đi theo tiếng gọi của tổ quốc, hăng say chiến đấu, hăng say sáng tác

Bài thơ là tiếng lòng, tiếng reo mừng sung sướng của không chỉ là tác giả mà đại diện cho thế hệ trẻ của giang sơn lúc bấy giờ khi tìm thấy lý tưởng của Đảng. Là sự nhận thức mới, cách nghĩ mới, đem tuổi trẻ góp sức cho đời và cho tổ quốc.

Lí tưởng sống của thanh niên qua bài thơ Từ ấy – Mẫu 6

giang sơn ta trải qua bao thăng trầm vất vả, cập bến vinh quang ngày nay là nhờ ơn lớp lớp thế hệ cha anh đã sống và chiến đấu kiên định. Tinh thần họ được thúc đẩy bởi những lý tưởng, những mục đích, khao khát cao quý. Và dù ở hình thức này hay hình thức khác đều chung một nội dung: vì nước vì dân. Bài thơ Từ ấy của Tố Hữu có lẽ đã thay lời nói lên toàn bộ. Bài thơ còn đến ngày nay thúc giục thanh niên kiếm tìm một lý tưởng đúng đắn tiến bộ.

Từ ấy ra mắt khi Tố Hữu còn rất trẻ, mới 18 tuổi – thời kỳ con người đang dạt dào sức sống, sức chiến đấu. Thời điểm bài thơ ra mắt cũng là lúc giang sơn ta đang trong những năm tháng sục sôi kháng chiến thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Bài thơ là tiếng lòng thể hiện lý tưởng cao đẹp của người thanh niên cộng sản. Từ đó, bài thơ gợi ra những suy nghĩ sâu sắc về lý tưởng của người thanh niên Việt Nam hiện nay.

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

Từ ấy là từ khi nào? Là từ khi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. vinh hạnh ấy được diễn tả bằng những hình ảnh cực kì tươi đẹp “bừng nắng hạ”, “chói qua tim”. Và nhà thơ sung sướng gọi con đường theo Đảng là “Mặt trời chân lý” – là ánh sáng dẫn đường chỉ lối cho đường đi của nhà thơ. Có ánh sáng dẫn đường, người thanh niên mười tám tuổi sôi nổi bồng bột với hạnh phúc ngập tràn “Hồn tôi là một vườn hoa lá” “đậm hương rộn tiếng chim”. rất có thể nói, chân lý tới từ mặt trời cách mạng đã tiếp thêm sức sống, khơi nguồn sức trẻ để nhà thơ có động lực vươn lên, vươn đến những ước mơ.

Vậy lý tưởng là gì? Lý tưởng là điều ta tin tưởng, tôn thờ và làm mọi thứ vì lý tưởng của tôi.

Mỗi người sẽ có những lý tưởng không giống nhau. Nhưng dù là gì đi chăng nữa, lý tưởng phải là nguồn sáng dẫn đường cho con người, tránh đưa họ lầm đường lạc lối. Nói như nhà thơ Tố Hữu thì đó phải là ánh sáng “chân lý”, ánh sáng của cái thiện. Nói như vậy, tức là cần phân biệt lý tưởng cao đẹp và lý tưởng thấp hèn. Lý tưởng cao đẹp giúp con người đến với nét đẹp, đến với cái thiện. Lý tưởng thấp hèn khơi dậy những mong muốn xấu xa, ích kỷ.

không chỉ là vậy, lý tưởng phải trở thành động lực để con tình nhân đời, yêu sống và sống tốt. Lý tưởng giúp ta lạc quan yêu đời “hồn tôi là một vườn hoa lá”, rất có thể vượt qua những khó khăn, vất vả để bước tiếp con đường mình đã chọn. Với Tố Hữu, lý tưởng mà Từ ấy nhà thơ có được đã giúp ông vượt qua những cuộc đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp đối với cách mạng, vượt qua xiềng xích, tra tấn lao tù để cùng cách mạng sống đến ngày thắng lợi.

Lý tưởng của Tố Hữu là gì mà có sức mạnh kỳ diệu vậy?

Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Lù anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ.

Con đường Tố Hữu lựa chọn là con đường hoà mình gắn bó với nhân dân lao động, với những kiếp cầm lao “không áo không cơm”. Gắn bó với nhân dân để cảm thông, để sẻ chia, để cùng nhau chung tình máu mủ cùng là con Lạc cháu Hồng. Gắn bó với nhân dân để sống chết vì nhân dân và được hưởng tình yêu thương, che chở của nhân dân giành riêng cho mình. Còn hạnh phúc nào hơn thế, và như Tố Hữu đã từng sung sướng thốt lên “Người với người sống để yêu nhau”.

Tuổi 16,17, 18… chúng ta vẫn chưa là đảng viên, không hẳn đã là người lớn song cũng không hề là hoa nắng vô tư, rất có thể sống thờ ở với mẹ cha, họ hàng, bè bạn. giang sơn ta cũng không hề nghèo nàn như trước, không phải “cù bất cù bơ” “không áo cơm”. Chúng ta không ôm mộng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp như Tô Hữu nhưng hãy nhìn cuộc sống quanh mình để tìm chân lý, tìm lý tưởng.

giang sơn ta đang vươn mình chạy mau sao cho kịp thời đại. Thế hệ chúng ta đang dần gánh vác trọng trách ấy. Gia đình, họ hàng, bè bạn, thầy cô… ai cũng mong muốn cho ta những điều đẹp đẽ nhất “giang sơn mong sao em thành người”. Vậy lý tưởng của chúng ta là gì nếu không phải là vì tập thể? Học tập, lao động và cống liên sức mình cho gia đình, cho xã hội, cho Tổ quốc thân yêu, đó là điều ít nhất mỗi thanh niên ngày nay cần hiểu. Chúng ta không mong là cánh chim bằng vạn dặm, không thể là cả bản hoà ca hùng tráng… mong mỗi người là một “mùa xuân nho nhỏ”, “một nốt trầm xao xuyến” (Thanh Hải) để hiến dâng cho mùa xuân chung của tập thể, của quê nhà, giang sơn mình.

Con người không thể được gọi là sống mà không tồn tại lý tưởng. Tuổi xuân chúng ta – tuổi đẹp đẽ nhất, giàu sức sống nhất của đời người càng không thể không tồn tại lý tưởng sống. Bài thơ Từ ấy của Tố Hữu là một khúc ngân cao đẹp cho lý tưởng thanh niên Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *