Cảm nhận đoạn trích Nỗi thương mình để làm sáng tỏa tâm trạng đau đớn, ê chề của Thúy Kiều sau khi buộc phải làm kĩ nữ, tiếp khách ở lầu xanh. 

Với dàn ý chi tiết kèm theo 3 bài văn mẫu cảm nhận Nỗi thương mình giúp những bạn có thêm nhiều tư liệu tìm hiểu thêm, trau dồi vốn từ củng cố kỹ năng viết văn ngày một hay hơn. Bên cạnh đó những bạn tìm hiểu thêm thêm nhiều bài văn mẫu khác tại phân mục Văn 10.

Cảm nhận Nỗi thương mình của Nguyễn Du

  • Dàn ý cảm nhận Nỗi thương mình
  • Cảm nhận Nỗi thương mình – Mẫu 1
  • Cảm nhận Nỗi thương mình – Mẫu 2
  • Cảm nhận Nỗi thương mình – Mẫu 3

Dàn ý cảm nhận Nỗi thương mình

A. Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm “Truyện Kiều” và vị trí đoạn trích “Nỗi thương mình”.
  • Đánh giá chung về đoạn trích “Nỗi thương mình”.

B. Thân bài

– Vị trí của đoạn trích “Nỗi thương mình”

  • Đoạn trích Nỗi thương mình từ câu 1229 đến câu 1248 của Truyện Kiều mô tả tâm trạng đau đớn, tủi nhục, nỗi cô đơn, thương thân trách phận và ý thức về thân phận xấu số của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh.
  • Nội dung: Là tác giả Nguyễn Du viết về tình cảnh, tâm trạng của Thúy Kiều khi bị buộc làm kĩ nữ tiếp khách làng chơi. Nguyễn Du đã mô tả thật sống động bức tranh sinh hoạt đặc trưng ở chốn lầu xanh bằng bút pháp ước lệ tượng trưng:

Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.

– Tác giả đã khai thác triệt để nhằm tô đậm nỗi thương thân, xót phận của Thúy Kiều và gây cảm giác đau đớn. Xót xa thực sự cho người đọc.

– Với 4 câu thơ đầu thôi mà tác giả như vừa là bức tranh sinh hoạt nhơ nhớp chốn thanh lâu vừa chứa đựng tiếng thở dài não ruột của người con gái tài sắc buộc phải làm kĩ nữ.

=> Tác giả Nguyễn Du như đang thực sự xót thương Thúy Kiều rơi vào chốn bùn nhơ, nơi nhân phẩm bị hủy hoại, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh đó

  • rất có thể nói rằng Thúy Kiều đường như đã ý thức rất rõ về nhân phẩm cao quý của tớ.
  • Thúy Kiều là một người con gái tài hoa nhưng mệnh bạc, đã được Nguyễn Du xây dựng trở thành hình mẫu lí tưởng của nét đẹp, cái thiện. Khi lâm vào tình cảnh ô nhục mà nàng vẫn chưa từng nghĩ đến. Thúy Kiều như đã dùng hết sức cố vùng vẫy để được giải thoát, nhưng càng vùng vẫy lại càng bế tắc. Nỗi đau “trần thế’’ đối với một người Mai cốt cách, tuyết tinh thần như Thúy Kiều Hình như nhân lên gấp bội

=> Hình như nhà thơ tài năng Nguyễn Du đã thể hiện thật chân tình tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của nhân vật Thúy Kiều khi phải đối diện với chính lòng mình:

– Sống trong cảnh cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm thi chỉ khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Kiều mới có những khoảnh khắc hiếm hoi để sống thực với mình. Lúc khách làng chơi đã ra về, lúc này chỉ còn bóng đêm, đêm rất khuya, chỉ còn một mình Kiều đối diện với ngọn đèn chong.

– Đến câu thứ hai, nhịp thơ thay đổi thành 2/2/2/2: giật mình / mình lại / thương mình / xót xa. Hai chữ giật mình phối hợp với cách ngắt nhịp đột ngột Hình như diễn tả tâm trạng thảng thốt đau thương buồn tủi của Thúy Kiều.

=> Thúy Kiều đã như giật mình sợ hãi trước việc đổi thay ghê gớm của số phận và cũng như tình cảm thảm hại của tớ lúc này.

– Nỗi thương mình rất có thể nói là cảm xúc bao trùm, chủ đạo trong đoạn trích.

– Thúy Kiều đã buộc phải xa cha mẹ, xa tổ ấm hạnh phúc để bước lên cỗ xe định mệnh: vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh, lao đi trên con đường mịt mù, vô định.

– Thúy Kiều cay đắng nghĩ tới sự tương phản ghê gớm giữa quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc và hiện thực đen tối, phũ phàng:

  • Nàng nhớ lại cảnh sống quý phái, sang trọng khi còn ở nhà với cha mẹ trước lúc xảy ra tai ương và thương tiếc thân mình vì vùi dập tan tác như hoa giữa đường.
  • Quá khứ đối lập hiện tại một cách khốc liệt. Dĩ vãng tươi đẹp chỉ được gợi lên qua một câu: Khi sao phong gấm rủ là, còn hiện tại đen tối được nhắc đến liên tiếp trong nhiều câu thơ.

– Tác giả tả tâm trạng của Kiều ở chốn lầu xanh:

Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.

  • Cảnh có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt, tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa như: xuân có hoa; hè có gió; thu có trăng; đông có tuyết. Nhưng trước những cảnh đẹp đó, Kiều dửng dưng, thờ ơ bởi con tim nàng đã bị nỗi đau khổ quá mức làm cho giá lạnh.
  • Ở lầu xanh cũng có thể có đủ những thú vui như cầm, kì, thi, họa, nhưng đối với Kiều thì cảnh vật, con người và những thú vui ấy giờ đây đốì với nàng đều trở thành vô nghĩa.

– giá như nỗi sầu từ lòng người lan tỏa sang cả cảnh vật:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu lúc nào.

=> Bằng sự thông cảm thực sự và bằng tài năng kì diệu. Nguyễn Du Hình như đã viết lên hai câu thơ hay nhất về mối liên hệ tương đương giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình trong văn chương Việt Nam.

– Đoạn trích Nỗi thương mình chứa đựng ý nghĩa sâu sắc sâu sắc về quy trình nhân vật đã tự ý thức của con người cá nhân trong văn học trung đại.

  • Người phụ nữ xưa thường được giáo dục theo tinh thần an phận thủ thường, cam chịu và nhẫn nhục. Khi nhân vật Giật mình mình lại thương mình xót xa thì điều này đã bao hàm ý nghĩa sâu sắc “cách mạng” Con người không những biết hi sinh, nhẫn nhục, cam chịu mà bước đầu đã có ý thức về phẩm giá, nhân cách, tức là ý thức về quyền sống của bản thân.
  • Thương thân, xót phận là một hiện tượng khá phổ biến trong thơ văn thế kỉ XVIII. Không thể có tình thương sâu sắc, chân chính giành cho người khác nếu không tồn tại ý thức về bản thân, không biết thương chính bản thân mình.

– Đoạn trích Nỗi thương mình cho thấy phẩm giá cao quý, trong trắng của Thúy Kiều.

+ Không hề tránh mặt thực tại nghiệt ngã, và đã tôn vinh nhân cách của Kiều, phẩm giá của Kiều bằng việc thể hiện thành công nỗi buồn thương, day dứt, chán chường của nàng giữa chốn bùn nhơ.

C. Kết bài

  • Khẳng định được tài năng của tác giả Nguyễn Du cũng như tác phẩm “Truyện Kiều” có tầm tác động ra sao
  • Qua đoạn trích rất có thể hiểu được tâm trạng chán chường, buồn thương và vô vọng của Thúy Kiều, nàng như đã tự ý thức được nhân phẩm của tớ bị vùi dập cho nên càng thương mình.

Xem thêm: Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình

Cảm nhận Nỗi thương mình – Mẫu 1

“Nỗi thương mình” của Nguyễn Du, là một đoạn trích thể hiện rõ nét tài năng sử dụng nghệ thuật độc đáo, cái nhìn vượt thời đại và đặc biệt tinh thần nhân đạo mới mẻ. Nó cho thấy tâm trạng đau đớn, tủi nhục, nỗi cô đơn, thương thân trách phận và ý thức sâu sắc về thân phận xấu số của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh.

Nguyễn Du (1765 – 1820) quê ở Thăng Long, tên chữ Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc và sống trong xã hội phong kiến – một xã hội thối nát, suy thoái. Chính vì thế mà ông có dịp hiểu biết về lối sống phong lưu xa hoa của giới quý tộc phong kiến và có điều kiện dùi mài kinh sử. Ông được tiếp thu truyền thống học tập và sáng tác của cả gia đình, tạo cho ông vốn học vấn Nho học uyên thâm, lối sống tao nhã, khiến ông nắm vững về tầng lớp phong kiến. “Truyện Kiều” còn có tên Đoạn Trường Tân Thanh là một trong những sáng tác chính của ông. Bên cạnh đó “Nỗi Thương Mình” là một đoạn trích thể hiện khá rõ tài năng nghệ thuật độc đáo, cái nhìn vượt thời đại và đặc biệt tinh thần nhân đạo mới mẻ của đại thi hào nguyễn Du. Đoạn trích chỉ vỏn vẹn hai mươi câu, từ câu 1229 đến câu 1248, cho thấy tâm trạng đau đớn, tủi nhục, nỗi cô đơn, thương thân trách phận và ý thức sâu sắc về thân phận xấu số của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh.

Từ lúc gia đình gặp biến cố, phải bán mình chuộc cha, trao duyên lại cho em là Thúy Vân, Kiều đã trải qua 15 năm lưu lạc, trong 15 năm ấy, Kiều gặp phải bao sự lọc lừa nhưng lần Thúy Kiều bị lừa đau đớn nhất có lẽ là lần nàng bị Mã Giám Sinh lừa bán đến lầu xanh. Nó là bước ngoặt bẻ ngang cuộc đời Thúy Kiều rẽ sang một hướng khác. Rơi vào tay Tú Bà, Kiều rút dao định tự tử nhưng không thành. Ở lầu Ngưng Bích, Kiều lại mắc bẫy Sở Khanh, bị Tú Bà đánh đập tơi bời. tiếp theo là những tháng ngày ê chề nhục nhã của nàng trong vai trò kĩ nữ – gái làng chơi, đem tấm thân trong ngọc trắng ngà của tớ mua vui cho những kẻ lắm tiền háo sắc. Những ngày Thúy Kiều ở chốn lầu xanh là những ngày nàng cực kì buồn tủi, tâm trạng rối bời như tơ vò nghĩ về thân phận, sự tủi nhục của kiếp hồng nhan.Đoạn trích có một kết cấu khá logic với diễn biến tâm trạng và trớ trêu của cuộc đời đầy xấu số khi nghe những lời độc thoại nội tâm đầy đau đớn : “Khi tỉnh rượu …xuân là gì?” Đó cũng là thời điểm mở đầu cho những chuỗi tâm sự nối kết, ngổn ngang. Kiều nghĩ đến thân phận mình để rồi “mình lại thương mình xót xa” Kiều xót xa cho chính bản thân mình. Với nàng, hiện tại như một giấc mơ cay đắng khi nàng sánh với quá khứ.

Mở đầu đoạn trích Nỗi Thương Mình là tâm trạng đau buồn, tủi hổ đến ê chề của Thúy Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà:

“Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”

Bốn câu đầu của đoạn trích cho ta thấy rõ hình ảnh lối sống xô bồ, nhơ nhớp và thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Nguyễn Du đã mô tả thật sống động bức tranh sinh hoạt ở chốn lầu xanh bằng bút pháp ước lệ tượng trưng. Trong chốn lầu xanh ấy Kiều phải tiếp khách mua vui cho “biết bao” người mà nàng không thể nào nhớ được hay là đếm được, bởi lẻ một điều rằng hằng ngày Kiểu tiếp khách làng chơi triền miên “suốt đêm, sớm đưa, tối tìm” những từ ngữ ấy đã cho ta thấy được sự sống động của chốn lầu xanh , nơi mà Tú Bà ăn nên làm ra. Bằng những hình ảnh ẩn dụ : bướm lả ong lơi, cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm” và những điển tích điển cố: “lá gió cành chim”, “Tống Ngọc, Trường Khanh” – chỉ chung cho loại khách làng chơi phong lưu Nguyễn Du cho thấy tình cảnh của Thúy Kiều tuy sống trong cảnh lầu xanh tưởng như thanh tao, phong nhã nhưng thực chất đó chỉ là giả tạo, hằng ngày K phải làm công việc nhơ nhuốc, tiếp đủ những loại khách đến mua vui. Điều này cho ta thấy rõ hơn về nỗi xấu số và tình cảnh trớ trêu của Thúy Kiều. Bút pháp ước lệ giúp Nguyễn Du không tránh né số phận thực tại của Thúy Kiều mà vẫn giữ được chân dung cao đẹp của nàng. Qua đó ta thấy được thái độ trân trọng, cảm thông của tác giả đối với nhân vật.

Nguyễn Du đã tái hiện cái hoàn cảnh của Thúy Kiều bằng những sự đối lập nghiệt ngã: một bên là nước mắt Thúy Kiều – một bên là những cơn say, trận cười triền miên. Do vậy ở bốn câu thơ đầu, mặc dù vẫn chưa được mô tả trực tiếp, người đọc vẫn thấy Kiều đang bị cuốn đi trong một cơn lốc vô hình, bị buộc vào cảnh sống nhơ nhớp nơi nhà chứa. Hiện thực nghiệt ngã mà nhân vật phải trải qua, hé mở thân phận bẽ bàng của người kỹ nữ. Nguyễn Du đã mỹ lệ hóa cho cảnh sống ấy bằng một thứ ngôn ngữ ước lệ rất tài tình: ước lệ theo thành ngữ dân gian, ước lệ theo điển tích làm cho sự hồi tưởng kiếp sống đớn đau của Kiều trở thành tao nhã hơn. chính vì chỉ có hồi tưởng mới diễn tả hết sức sống chân thực của nội tâm nhân vật, mới thể hiện đúng nỗi đau, mới nổi trội được phẩm giá và sự chịu đựng giày vò đáng thương của nhân vật. Đằng sau những câu thơ ấy là tấm lòng cảm thông, trân trọng mà tác giả giành cho Thúy Kiều.

Bốn câu thơ đầu đã đưa ra một tình thế của tâm trạng. Ở lầu xanh có nhiều kĩ nữ, họ rất có thể bình thản coi việc làm của tớ rất đỗi bình thường , trớ trêu thay Kiều lại có một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp, một tâm hồn trong trắng, một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm trướng rủ màn che” tự nhiên bị ném vào bùn nhơ, hai câu tiếp nói về tâm trạng của Kiều trong những ngày tủi nhục , nỗi ê chề , sự ép buộc , đày đọa mà Kiều phải chịu đựng:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”

Ở nơi lầu xanh đầy “cuộc sau, trận cười” thì chỉ “khi tỉnh rượu lúc tàn canh” Kiều mới có một khoảnh khắc hiếm hoi để sống thực với chính mình và cũng là hoàn cảnh Kiều tỉnh táo nhất đối diện với con người mình. Thời gian và không gian thật vắng lặng như gợi lên nỗi niềm xót xa. Nhịp thơ có sự thay đổi giữa hai câu thơ trên từ nhịp 3/3 chuyển sang nhịp 2/4/2. Hai chữ “giật mình” phối hợp với cách ngắt nhịp ấy đã diễn tả sự biến đổi đột ngột trong tâm hồn Thúy Kiều. Nàng bàng hoàng đau xót trước thực tại phũ phàng và trơ trọi chỉ có một mình nàng tự xót xa, đau đớn cho chính số phận bi thương, đoạn trường của tớ. Giật mình ko chỉ là hành động bên phía ngoài của nhân vật khi có một sự tác động đột ngột nào đó của môi trường bên phía ngoài. Đó là cái giật mình từ cảm xúc bên trong mà nếu ko có thì Kiều tương tự như toàn bộ những kĩ nữ khác trong thanh lâu của Tú bà. Kiều giật mình vì nhận thấy sự tàn phá thảm hại về thân xác và phẩm cách của tớ ở chốn lầu xanh, sự cô đơn lẻ loi của tớ và sự yếu ớt bất lực của tớ trước bao nhiêu sự xấu xa, cạm bẫy đang bủa vây mình mà ko thể chống đỡ. Điệp từ “mình” lặp lại ba lần trong một câu thơ như tiếng nấc nghẹn ngào, tha thiết của Thúy Kiều ý thức được về phẩm giá, nhân cách, quyền sống bản thân đó cũng là ý thức cá nhân và quyền sống của con người trong lịch sử phong kiến mà Nguyễn Du muốn truyền tải đến người đọc.

Đối với hai câu trên với nhịp thơ đầy nỗi tủi nhục của Kiều thì những câu tiếp theo sau là những hồi ức dội về, hồi ức tươi sáng va đập thực tại tăm tối đọa đày:

“Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”

Một cô nàng khuê những, tài sắc vẹn toàn, hiền lành đoan trang hết mực. Một cô nàng nho gia giờ đây trở thành một cành hoa tan tác. Sự biến chuyển nhanh gọn đến mức chính Kiều cũng phải bàng hoàng, sửng sốt. Phép đối lập như một biện pháp nghệ thuật chủ yếu toàn đoạn trích và nhất là trong hai câu này càng tăng thêm giá trị biểu cảm. Nó tạo sự so sánh đối lập giữa hai quãng đời, hai thời gian, hai tình cảm. Cặp từ đối lập chỉ thời điểm: “Khi sao / giờ sao” tạo thành cảm giác đột ngột của sự thay đổi trong một khoảng thời gian không mấy cách biệt. Chính vì điều này đã làm vết thương của Kiều nhức nhối, đau đớn như đào sâu thêm vào nỗi xót xa, tê tái của Kiều.

Quá khứ hiện về đối lập với thực tại một cách khốc liệt, Kiều hồi tưởng lại những tháng năm “êm đềm trướng rủ màn che” thì lập tức thực tại phũ phàng lại hiện lên rõ nét hơn gấp bội, từ “phong gấm” diễn tả một sự bình yên, êm đềm trong quá khứ đối lập gay gắt với từ “tan tác” trong câu thơ nói về hiện tại như cái tình trạng phũ phàng bao trùm vùi chôn quá khứ êm đẹp. Phép so sánh “như hoa giữa đường” càng làm nổi trội sự đối lập tuyệt đối giữa quá khứ và thực tại, giữa cá nhân và hoàn cảnh. Cụm từ “bướm chán ong chường” và “dày gió dạn sương” là nét sáng tạo về cách dùng từ của Nguyễn Du, nhấn mạnh có ý so sánh theo mức độ tăng tiến cho ta thấy sự vùi dập, chà đạp mà Kiều phải gánh chịu. những câu hỏi tu từ ở đây đc Nguyễn Du sử dụng nhằm làm rõ hơn sự đau đớn, ê chề của Kiều trước thực tại phũ phàng, tàn nhẫn.

Hai câu thơ day dứt một tiếng thở dài vô vọng của một cô nàng vốn tài sắc hơn người, khát khao hạnh phúc nhưng giờ đây đã chán ngán toàn bộ:

“Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì?”

Sống trong cảnh lầu xanh suốt ngày phải mua vui cho người khác hành hạ bản thân mình, lặp đi lặp lại hằng ngày ai cũng sẽ thấy chán chường muốn bỏ bê toàn bộ và Kiều cũng vậy. Sự đối lập giữa người – khách làng chơi (số nhiều) với chính mình – Kiều (số ít) như thể hiện tột độ nỗi cô đơn của nàng. Từ “xuân” ở đây ý chỉ thú vui được hưởng hạnh phúc lứa đôi nhưng với Thúy Kiều sống làm vợ khắp người ta thì làm gì còn có mùa xuân, chỉ thấy Trong số đó là sự nhục nhã, lẻ loi, trơ trọi và cô đơn của cuộc đời người kĩ nữ mua vui. Từ “mặc” ở đây lại chỉ sự bất lực, mặc cho mọi thứ muốn tới đâu thì tới, dằn vặt nặng nề đay nghiến của Thúy Kiều nhưng không làm sao khác được.

“Đòi phen gió tựa hoa kề
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu lúc nào
Đòi phen nét vẽ câu thơ
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa
Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó, mặn mà với ai.”

Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp hiện lên, có đủ cả: phong – hoa – tuyết – nguyệt, cảnh đẹp bốn mùa quy tụ vào nơi đây, gió xuân vi vu thổi, hoa hạ đua nhau khoe sắc ngát hương, trăng thu sáng vằng vặc, tuyết đông phủ kín cả lầu toàn bộ đều rất thực, rất sinh động như vẽ nên bức tranh đầy màu sắc, âm thanh của lầu xanh và Trong số đó có đủ những thú vui của con người: cầm – kì – thi – họa càng điểm tô cho bức tranh ấy thêm phần sống động, sống động hơn lúc nào hết. Nhưng nêu lên những cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tao nhã, nên thơ ấy lại như một sự giễu cợt, mỉa mai, chua chát. Vì dù ngụy trang khéo đến mấy, cũng không thể che đậy nổi cái thực chất nhơ nhớp, dơ dáy bên trong của chốn “buôn thịt bán người”. Đoạn thơ vì thế đồng thời hướng vào tâm trạng Kiều: Kiều luôn phải tách mình thành hai nửa: một con người bề ngoài vui gượng, giả tạo và một con người thực, sống để xót xa mỗi lúc canh tàn.

Cảnh không thể vui vì lòng người nặng trĩu nỗi tê tái.. Khi gió tựa hoa kề, khi cung cầm thi họa, lúc nào nỗi đau cũng dâng đầy và nghẹn ứ trong lòng nàng. Ý thức về nhân phẩm một khi trỗi dậy là lại bị giày xéo, khiến nàng không nguôi bẽ bàng, nhục nhã về thân phận. Hai từ “đòi phen” được lặp lại trong tám câu thơ càng thể hiện rõ hơn đó là một nỗi đau thường trực, vẫn chưa lúc nào thôi dằn vặt Kiều. Nỗi sầu của Kiều lan tỏa sang cảnh vật :

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu lúc nào”

Bằng sự thông cảm lạ lùng, và bằng tài năng kì diệu, Nguyễn Du đã viết nên hai câu thơ hay nhất giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình. Từ một trường hợp cụ thể, thơ Nguyễn Du đã vươn tới tầm phổ quát, trở thành chân lí của mọi thời. rất có thể nói hai câu thơ là đỉnh điểm của đoạn trích vì nó gột tả được sâu sắc hơn lúc nào hết nội tâm của nhân vật từ đó lan tỏa sang cảnh vật một cách thật tự nhiên và hợp lí. Nỗi buồn của Thúy Kiều cứ dâng lên, như sóng cồn triền miên không lúc nào dứt, nó cứ khuấy động bên trong sâu thẳm con người Kiều để rồi đến một lúc nào đó, tức nước vỡ bờ, nó dâng lên cuồn cuộn đánh động vào nỗi lòng, cảm xúc của Thúy Kiều, khiến cho mọi vật qua cái nhìn của nàng đều trở thành u buồn, tăm tối, nhuộm màu tang thương.

“Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai?”

Hai câu thơ cuối là nỗi lòng của Thúy Kiều được Nguyễn Du thể hiện một cách tinh ý, độc đáo mà tâm sự này, tâm trạng này, Kiều của Thanh Tâm tài nhân không hề có được. Từ “vui gượng” nói lên toàn bộ sự lạc lõng, cô độc cũng là sự xích míc, bế tắc không lối thoát của Kiều trước hoàn cảnh. Sống trong cảnh nhơ nhớp, phải tiếp khách làng chơi, trải qua những cơn say, trận cười quanh năm suốt tháng, phải lả lơi… là điều bất đắc dĩ, Kiều không lúc nào muốn thậm chí không lúc nào rất có thể tưởng tượng được cuộc đời mình lại thảm kịch như thế. Giữa chốn lầu xanh mà đồng tiền lên ngôi, có bao kẻ đến rồi đi, cái sót lại sau cùng với Kiều chỉ là sự rã rời, đau đớn cả về thân xác và tâm hồn thì làm gì có ai là tri kỉ, có ai để “mặn mà” nhưng trong sâu thẳm cõi lòng, Kiều vẫn luôn mong ngóng một tấm lòng, một người hiểu mình. Một lần nữa ngôn ngữ nửa trực tiếp lại khiến cho câu thơ có những lớp nghĩa sâu sắc phối hợp câu hỏi tu từ đầy sót xa cay đắng cho thấy phẩm chất đẹp đẽ của Thúy Kiều giàu lòng tự trọng, coi trọng phẩm giá và muốn sống một cuộc sống bình yên, trong sáng.

Đoạn trích Nỗi Thương Mình thể hiện khá hoàn chỉnh số phận, tính cách của Thúy Kiều. Thể hiện triệu tập tư tưởng nhân văn của tác giả: cảm thương trước thảm kịch của K, khẳng định nhân cách đẹp đẽ của nàng và khẳng định sự ý thức về nhân phẩm và sự ý thức cá nhân. Thể hiện nỗi thương mình của Thúy Kiều, Nguyễn Du cũng thể hiện được nghệ thuật mô tả nội tâm nhân vật với ngôn ngữ nửa trực tiếp, lời tác giả và nhân vật như hòa vào nhau tạo sự đồng cảm giữa tác giả-nhân vật- người đọc.

Cảm nhận Nỗi thương mình – Mẫu 2

Đây là đoạn thơ mô tả tâm trạng đau đớn, ê chề của Thúy Kiều sau khi buộc phải làm kĩ nữ, tiếp khách ở lầu xanh. Khi biết rơi vào trong nhà chứa, Kiều đã tự tử, nhưng không chết. Nàng định liều chạy trốn theo Sở Khanh nhưng lại bị Sở Khanh lừa, bị Tú Bà bắt lại, đánh đập tàn nhẫn, sau cuối buộc phải tiếp khách.

Kiều là một cô nàng đẹp, cho nên nàng phải tiếp khách liên tục, cơ hồ như không dứt ra được.

“Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh”.

Một không khí thật là náo nhiệt, ồn ào nơi chốn lầu xanh. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, nó hoàn toàn tương phản với những nỗi lòng tê tái của nhân vật ở bên trong. Nguyễn Du rất biết khai thác những tương phán để mô tả nỗi lòng, biết phân tích sự khác lạ bề ngoài và bề trong. Phải hiểu nỗi đau đớn trong tâm hồn mới hiểu được phẩm giá của Kiều.

Cả đoạn thơ này tác giả không mô tả cảm xúc của Thúy Kiều trong một thời điểm nào, một buổi nào, một ngày nào, mà mô tả một tâm trạng triền miên trong chuỗi ngày tiếp khách liên tục Ngày tháng chỉ là một sự ông xã chất và nối dài. Khi cuộc sống trở thành vô nghĩa thì người ta tính ngày tháng cụ thể để mà làm gì? Nỗi thương mình của Kiều hiện lên những lúc vắng lặng, những khi xong việc nàng tự đối diện với chính mình. Đó là nỗi đau thầm kín đằng sau những hoạt động tiếp khách ồn ào, rộn rã. Ở đây sự mô tả phối hợp với thuật theo bút pháp tự (kể) tình. Tác giả lần lượt kể và tả những nỗi thương mình.

Thứ nhất là nỗi thương thân, xót thân, tiếc thân:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót. xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân!
Mặc người mưa Sở, mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gỉ?”

Hai tiếng “giật mình” rất hay, nó nói lên cái thần của con người những lúc ngẫm lại những thay đổi quá lớn của cuộc đời. Ba chữ “mình” trong một câu nói lên sự cùng cực cô đơn: mụ chủ chỉ biết tiền, khách chơi chỉ biết sắc, gia đình ở xa, không ai biết là Kiều bị lừa, chẳng ai biết cho đời một người con gái tan nát! Nổi lên trên hết là sự nuối tiếc một phẩm giá bị chà đạp. Hình ảnh “phong gấm rủ là” nói lên hình ảnh của tấm thân vàng ngọc, được khoác gấm, rủ bức là, tức tấm thần bọc trong nhung lụa, quý báu, thế mà nay như hoa giữa đường, ai qua lại cũng rất có thể xéo lên tàn nhẫn!

Thứ hai là nàng ghê tởm chính bản thân mình: con người khuê những vốn kín đáo, e thẹn, nay đã thành mặt dạn mày dày “dày gió dạn sương”, “bướm chán ong chường”. “Bướm chán ong chường” không phải là nói khách chơi chán chường Kiều, mà nói chính Kiều chán chường bản thân mình, sao mình lại trở thành con người tiếp khách trơ trẽn, vô liêm sỉ như thế được? Từ đây Kiều chỉ sống như một món hàng, một thứ đồ chơi, không sống như một con người nữa. Nhiều sách chép câu “Những mình nào biết có xuân là gì” thành “Riêng mình nào biết có xuân là gì”. Chữ “những” có lẽ đứng hơn, hợp hơn. Đó là “những mình”, như loại mình… bao hàm cái ý chán mình ở trong ấy.

Thứ ba là nỗi buồn và bẽ bàng:

“Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu”.
Cảnh tượng nhìn qua quả là rất nên thơ, mà lòng nàng lại ủ dột:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn, cảnh có vui đâu lúc nào!
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa”.

Cảnh quả là vui thú, tao nhã, phong lưu, nhưng đối với Kiều chi là vui gượng: “Ai tri âm đó, mặn mà với ai?”. Đó chẳng qua là những trò chơi để giết thì giờ không mảy may ý nghĩa sâu sắc.

Thứ tư là sự cô đơn, đau đớn một mình, câu này tuy không tồn tại trong đoạn trích nhưng rất có ý nghĩa sâu sắc:

“Thờ ơ gió trúc mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân”.

Những nỗi lòng thương thân, xót thân, chán mình, buồn khổ cô đơn, vui gượng gạo như thế đã chứng tỏ mạnh mẽ Kiều là một con người có phẩm giá, không phải người tà dâm, lấy việc tiếp khách làm chuyện vui thú.

Có lẽ nói những nỗi lòng tan nát hợp hơn là những nỗi lòng tê tái chăng? Trong nỗi lòng Kiều, nổi lên tình cảm đau đớn vì tha hương lưu lạc và cảm giác thời gian nối dài nặng nề vô nghĩa.

Khi thuật lại nỗi thương mình của Kiều, nhà thơ dùng lời kể với điểm nhìn bên trong của nhân vật. Bốn câu đầu chỉ là mô tả cảm giác của Kiểu về những sự việc ra mắt với nàng. Những câu sót lại đều có chủ ngữ là “mình”, mình tự nhìn mình, mình nghĩ về phần mình. Thử hỏi lúc này ai có thế suy nghĩ thay cho nàng được? Với điểm nhìn ấy, khi đọc đoạn thơ, ta như trực tiếp đọc được những ý nghĩ thầm kín hết sức đau đớn của bản thân Kiều, chứ không phải nghe lời do ai đó thuật lại. Lẽ đương nhiên đó vẫn là lời thuật của Nguyễn Du, những điểm nhìn trần thuật bên trong là của Kiều đã tạo ra kết quả đó.

Nguyễn Du là nhà thơ rất tinh ý. Để mô tả những cảnh tầm thường, dung tục nơi lầu xanh, tác giả chỉ gợi qua những hình tượng với những cụm từ được cấu trúc đặc biệt.

– bướm lả ong lơi

– lá gió cành chim

– bướm chán, ong chường

– mưa Sờ, mây Tần

– gió tựa, hoa kề

Nếu nói ong bướm lả lơi thì rất có thể chỉ việc xảy ra một lần. Đảo lại thành ra nhiều lần. Bướm chán, ong chường cũng thế. Lá gió cành chim, gió tựa hoa kể đều chỉ những sự trăng gió, nhưng cách nói mới lạ và đa dạng, lại tao nhã.

Nguyễn Du không những kể, tả mà còn gợi, tạo cảm giác cho người đọc. Đây là đoạn văn tài hoa, tiêu biểu cho nghệ thuật mô tả tâm lí của Truyện Kiều

Cảm nhận Nỗi thương mình – Mẫu 3

Nghệ Tĩnh, vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi thoát ẩn của những bậc thi sĩ, anh hùng, nơi ẩn của những bậc thi sĩ, anh hùng, nơi sinh ra những con người có chí vững, tâm hồn mạnh mẽ. Đại thi hào Nguyễn Được cũng là một trong những người con được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy. Sự nghiệp thơ văn của ông không nhiều, nhưng những gì mà ông đóng góp cho kho tàng văn học dân tộc lại cực kì đồ sộ, vĩ đại.

Truyện Kiều là một trong những kiệt tác của Nguyễn. Từ cốt truyện của Thanh Tâm tài nhân. Nguyễn Du đã tạo thành một tác phẩm mới với cái nhìn mới về con người, xã hội với Nguyễn Du không những là mẩu chuyện tài mệnh tương đố mà còn là mẩu chuyện giữa tài và tâm. Chính điều này đã mang đến cho Truyện Kiều có một linh hồn mới, một sức sống mới, thích hợp với tâm hồn của người Việt Nam. Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa Việt Nam và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống. Nhân vật trung tâm của Truyện Kiều là Thúy Kiều – con người tài sắc vẹn toàn. Nhưng cũng không tránh khỏi thảm kịch của cuộc đời.

Đoạn trích Thúy Kiều tự thương mình tả lại cảnh Kiều bị mắc lừa sở khanh bị Tú bà đánh đập tàn nhẫn. Thúy Kiều phải nhận lời tiếp khách làng chơi. Đoạn trích Kiều thương mình nằm từ câu 1229 đến 1240. Đoạn trích lên cảnh lầu xanh và tâm trạng của Thúy Kiều sau khi tỉnh giấc à tự thương mình. Mở đầu đoạn trích Nguyễn Du đi mô tả cảnh ăn chơi trác táng ở chốn lầu xanh:

Lầu xanh mới rủ trướng đào
Cành treo giá ngọc, càng cao phẩm người.

Bướm lả – ong lơi , Lá gió – cành chim. Nguyễn Du diễn tả những du khách làng chơi ở một tầng bậc cao độ. Đây là cảnh sinh hoạt của một tổ ăn chơi, một chiếc gì đó dữ dội xô bồ, gấp gáp bởi những từ ngữ gợi hình, gợi cảm độc đáo. Chính sự tác từ đã làm cho cuộc vui tạo thêm gấp bội: lả lơi…một cách ăn chơi nổ trời và không lúc nào ngớt khỏi cảnh kiếm tìm, đưa đón tấp nập khiến cảnh trông thấy được nhân lên gấp bội với hình thức ngôn ngữ đặc biệt. Đó là xé những nhóm từ rồi đan chéo lại với nhau. Cho nên trong một câu thơ, một chủ thể, một vật thể được tách thành hai chủ thể, hai vị thể. Sự tách bạch đó không đơn thuần chỉ được nhân lên về lượng mà còn nhân lên cả về chất. Cuộc sống buông thả, không nề nếp, quy củ và cực kì trác táng.

Trướng đào tức là biểu lộ quảng cáo có hàng mới và có hàng mới ắt có đông người tìm tới, vì đông người nên giá mua vui càng cao.

Hai câu tiếp theo của đoạn trích:

Biết bao bướm lả ong lơi
…Dập dìu lá gió cành chim

Rồi tiếp theo là những cuộc say sưa nào là trận cười, cảnh đưa rước toàn bộ những cuộc vui đó cứ nối dài ra quanh năm suốt tháng…Đây đó là cách dùng ngôn ngữ độc đáo của Nguyễn Du khi mô tả về những cuộc vui ở lầu xanh. Khách làng chơi đến lầu xanh được ví như những loài ong bướm lúc nào cũng lả lơi. Trước hết câu thơ không tồn tại chủ từ, đó là chốn lầu xanh, bởi đâu đâu cũng thấy nàng Kiều xuất là nhân vật trung tâm của giá ngọc phẩm người:

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Nguyễn Du không để cho nàng Kiều xuất hiện trực tiếp, ông chỉ lách ngòi bút của tớ thôi mà đã hiện lên toàn bộ. Tỉnh rượu khi tàn, Kiều tỉnh giấc và thương thân mình: Giật mình, mình lại thương mình xót xa. Chỉ với câu thơ này mới đưa nàng Kiều tự phận gái lầu xanh trở về với thân phận nàng Kiều trong chính bản thân mình. Tỉnh rượu, tàn canh là lúc con người sống thật với lòng mình nhất, tự thức về những hành động của tớ, ý thức về những điều chua chát, đắng cay của bản thân mình. Và một khi đã ý thức được những hành động của tớ thì đó cũng là lúc nhân phẩm của con người trỗi dậy, là nhân phẩm, thực chất đẹp đẽ của nàng Kiều. Chỉ trong một câu thơ thôi đã có đến ba chữ mình là lúc Kiều cảm thấy mình cô đơn. Kiều tự suy nghĩ, đánh giá, tự thương mình. Chữ mình thứ hai có ý nghĩa sâu sắc quan trọng nhất, chính chữ mình này biểu lộ sự tự thương mình lớn nhất, chỉ có mình thấu hiểu hoàn toàn nỗi lòng của nhân vật trữ tình trong lúc này. Chữ mình thứ hai là loại câu nửa trực tiếp, nửa gián tiếp, là lời từ Kiều nói cho mình, cũng là lời nói của tác giả, tác giả như xông vào mẩu chuyện của Kiều như thấu hiểu mọi nguồn cơn, mọi sự tình vào mẩu chuyện của Kiều để cùng san sẻ, cảm thông với thân phận bọt bèo, nổi trôi của nàng Kiều. Đây là một câu thơ đa nghĩa, làm lay động lòng người.

Sau đó Kiều luôn sóng trong tâm trạng buồn thương:

Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường thế thân
Mặc người mưa Sở, mưa Tần
Những mình nào biết có xuân là gì?

Trong Kiều lúc này đang có sự phân thân. Hiện tại thì đau đớn, tan tác, chia lìa, nhục nhã đau đớn, đối lập bơ với quá khứ, một quá khứ êm đềm, trong trắng trinh nguyên. Cuộc sống khi xưa thơ mộng đẹp đẽ bao nhiêu thì cuộc sống hiện tại nhục nhã ê chề bấy nhiêu. Những dằn vặt da diết đớn đau của một con người bị xô đẩy vào một hoàn cảnh đối lập hoàn toàn với thực chất tâm hồn và với cuộc sống trong sáng trước đây. Thúy Kiều trước đây là Thúy Kiều rung động trước hình bóng văn nhân, một đóa hải đường hay một ánh trăng xanh, một xúc động trước cảnh ngộ thương tâm của con người đời xưa…

Một lời than, sự ngạc nhiên, sự dằn vặt và ẩn đằng sau là nỗi tủi thân chua xót đến cùng cực mà trước đó là cuộc sống êm đềm hạnh phúc kẻ đón người đưa, tinh khôi, nõn nà, thơm tho…và giờ đây chỉ là một bông hoa tan tác, bị vùi dập giữa đường, bị ngắt khỏi cành bị lìa khỏi cội. Một cuộc sống thật phũ phàng, một cuộc đời thê bỉ, với cảnh tượng giày vò mua đi bán lại:

Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Ở đây không đơn thuần chỉ là sự so sánh. Hai từ sao đặt liền câu trước, câu sau tạo sự cách biệt, một nhân vật thành hai nhân vật, hai thân phận. Khi sao – giờ sao đây là hai khoảng thời gian cách biệt không giống nhau cộng lại là nỗi chua xót đắng cay tủi thân đến vô bờ:

Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường thế thân.

biểu lộ tại dày gió dạn sương nỗi buồn chán tạo thêm gấp bội. nói về mặt là nói về tâm hồn, thế mà giờ đây mặt trơ trơ. Nàng nhớ đến hành vi đã qua cay đắng tủi nhục khôn cùng chỉ khi tâm hồn chết theo thì Kiều mới sống được ở chốn lầu xanh ngày mà chỉ rất có thể quên đi những gì êm đềm đẹp đẽ trước đây, một thời trướng phủ màn che quên đi bản thân mình thì Kiều mới rất có thể tồn tại được trong xã hội này.

trải qua việc mô tả đoạn trích Kiều tự thương mình Nguyễn Du đã đặc biệt thành công trong việc mô tả tâm trạng của Kiều. Cái biệt tài của Nguyễn Du trong đoạn trích này là mô tả tâm trạng cô độc của Kiều, bị tách ra khỏi sự giao tiếp với nội tâm thì thiên nhiên lập tức xuất hiện để nói hộ lòng người. Thiên nhiên với con người làm một, cảnh hòa với tình Nguyễn Du có được thành công ấy là do tác giả đã vận dụng sự hiểu biết của tớ về cuộc đời trong việc xây dựng, khám phá nội tâm nhân vật như nghệ thuật sử dụng từ ngữ một cách chính xác, lựa chọn, sáng tạo hình ảnh thích hợp với hoàn cảnh. Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Kiều, một tâm trạng bi thương, thấm thía. Một con người có ý thức sâu xa về nhân phẩm của tớ và giữ gìn phẩm chất ấy cho dù cuộc đời có vùi dập đến đâu vẫn không sao xóa sổ được ý thức ấy ở chốn lầu xanh. Khi xây dựng nhân vật Thúy Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện lòng thương cảm sâu sắc đối với nhân vật đồng thời qua đó tác giả cũng lên án, phê phán xã hội một cách sâu sắc.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *