Top 7 điều thú vị về nhóm Halogen trong hóa học rất có thể bạn muốn biết

07-06-2021 7 7257 2 0

Báo lỗi

“Halogen” theo tiếng Hi Lạp tức là “tạo muối”, do nhà hóa học Đức I. Shweiger đề nghị năm 1811.
Nhóm halogen gồm có Flo, Clo, Brom, và Iot.
Trong số đó, Flo và Clo ở dạng khí trong điều kiện thường. Brom ở dạng lỏng. Iot ở dạng rắn.
Bài viết này, toplist sẽ giới thiệu đến bạn những điều thú vị khác của nhóm Halogen!

1234567

1


Phan Lang Onion

Năm sinh và tác giả của những nguyên tố halogen

  • Flo Lịch sử coi năm 1771 là năm tìm ra flo, khi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele (đọc là Sile) chưng hỗn hợp khoáng vật fluorit (CaF2) với axit sulfuric. Fluo tiếng La Tinh tức là chảy. Sau đó đã được đổi tên thành Flo theo tiếng Hi Lạp tức là sự hủy hoại, chết chóc.
  • Clo được tìm ra năm 1774 và cũng bởi nhà hóa học Scheele. Đó là khi ông cho axit clohidric tác dụng với khoáng vật piroluzit (MnO2). tên thường gọi Clo từ tiếng Hi Lạp tức là vàng lục.
  • Brom được tìm ra năm 1825 bởi nhà hóa học Pháp Antoine Jerome Balard. Brom bắt nguồn từ bromos trong tiếng Hi Lạp ngĩa là hôi thối.
  • Iot được phát hiện năm 1811 bởi nhà thầu khoán người Pháp Bernard Courtois. Tiếng Hi Lạp, iodes tức là màu tím.
  • Atatin được tìm năm 1940 bởi nhóm nhà vật lí người Ý D.Corson, C.Mackenzic, E.Segre. Atatin đặt theo tiếng Hi Lạp tức là không bền. tất nhiên là vậy rồi vì nó là nguyên tố phóng xạ mà!
Nhóm halogen
Nhóm halogen


2


Phan Lang Onion

Một vài điều nên biết về clo

Clo là hóa chất rất có thể gây ngộ độc khi ta hít hoặc nuốt phải. Khi đó clo sẽ phản ứng với nước trong cơ thể để tạo thành axit clohidric HCl và axit hipocloro HClO mà cả hai đều nguy hiểm với con người. Ta thường biết khí clo thường được dùng để khử trùng bể bơi, những nguồn nước máy nhưng điều này không mấy tác động tới con người.

Chủ yếu nguyên nhân ngộ độc clo là do uống phải những nước tẩy rửa, hoặc do sự thiếu cẩn trọng trong những phòng thí nghiệm… Clo độc gây triệu chứng trên toàn cơ thể. Cơ thể bị tổn thương, có cảm giác nóng rát miệng, sưng phù họng, nôn mửa,… với đường tiêu hóa; không thở được và tạo dịch trong phổi với đường hô hấp; tụt huyết áp, tổn thương da, mất cân bằng pH trong máu… với hệ tuần hoàn. Khi hít phải thì ngay lập tức đưa nạn nhân đến nơi thoáng khí. Cho uống sữa hoặc nước nếu vô tình nuốt phải (trừ khi nôn mửa hoặc co giật).

Do sự nguy hiểm này của clo mà đây trở thành một vũ khí hóa học được sử dụng trong chiên tranh. Trong thế chiến thứ nhất, quân Đức và Anh đã dùng hơn 125.000 tấn khí độc. Quân Đức còn dùng clo tiêu diệt toàn bộ 2 sư đoàn Pháp và Algeria. Nạn nhân cảm thấy đau nhói ở cổ và ngực.

Quả là một thứ khí nguy hiểm! Nhưng rất may khi thứ khí này không tồn tại ở dạng đơn chất mà chủ yếu dưới dạng hợp chất. Mà nhiều nhất đó là muối ăn hằng ngày ta sử dụng: NaCl.

Clo trong chiến tranh
Clo trong chiến tranh

3


Phan Lang Onion

Hành trình khám phá ra flo

Thật vậy! Lịch sử tìm ra flo tự do (ở dạng đơn chất) cũng là lịch sử của nguy hiểm và hi sinh của nhiều nhà khoa học.
Humphry Davy không thành công trong việc điện phân axit flohidric HF và ông bị ngộ độc, mặc dầu ông
đã xác định được nguyên tử khối của flo bằng 19,06.

Năm 1834, học trò của ông là nhà vật lí Michael Faraday cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề flo tự do bằng phương pháp điện phân một số muối florua trạng thái nóng chảy nhưng cũng thất bại.

Sau đó hai anh em nhà Knox người Ái Nhĩ Lan (Ireland) tiến hành thí nghiệm 5 năm liền. Kết quả là một người chết và người còn sót lại bị thương.
Ngoài ra còn có một số nhà bác học khác sẻ chia số phận của anh em nhà Knox.

sau cùng trong những năm 1854-1856, giáo sư Pháp trường ĐH Bách khoa Paris là E.Fremy mới thành công trong việc điện phân canxi florua (CaF2) nóng chảy. Canxi kim loại xuất hiện ở cực âm và một khí thoát ra ở cực dương. Tiếc là ông vẫn chưa thu được khí để nghiên cứu tính chất.

Năm 1869, nhà hóa học Anh G.Gore đã thu được ít flo, nhưng nó đã nổ mạnh khi tác dụng với khí hidro. (vì bản thân flo đã phản ứng mãnh liệt với hidro trong bóng tối rồi!)

Người sau cùng thành công trong điều chế flo tự do là nhà bác học Pháp Henri Moissan. Đó là năm 1886-nửa sau của thế kỉ XIX! Năm sau ông thu được flo lỏng. Khi điều chế flo, ông đã phải sử dụng một bộ áo giáp bằng bạch kim (platin) vì đó là 1 trong trong số ít ỏi những kim loại không bị flo phân hủy.

Henri Moissan
Henri Moissan

4


Phan Lang Onion

mẩu truyện Brom tìm ra Balard

Như đã biết ở trên người tìm ra brom là Balard. Vốn lúc đầu anh chỉ là một trợ lí của một trường trung cấp dược, nhưng sau đó trở thành một Viện sĩ Hàn lâm.

Công việc của Balard là điều chế muối kết tinh. Và sản phẩm lúc nào vẫn còn đó đó lại nước cái. Balard đã cho nước clo vào dung dịch nước cái này và một chất mầu nâu đã xuất hiện. Dung dịch phân thành 2 lớp: lớp trên red color và lớp dưới cho tinh bột vào thì có màu xanh nước biển. Vậy lên lớp dưới đó đó là iot. Vậy còn lớp trên là gì? Anh đã chiết chất màu nâu đỏ ra để nghiên cứu.

Năm 1926, Balard đã gửi báo cáo tới Viện Hàn lâm khoa học Paris. Anh đề nghị đặt tên chất này là muric tiếng La Tinh là nước mặn. Không tin tưởng kết quả của Balard, một Ủy ban đặc biệt được lập ra với nhiều nhà khoa học bấy giờ đến để đánh giá. Và họ đề nghị đặt lại tên là brom.

Vậy thì việc brom tìm ra Balard có liên quan gì đến mẩu truyện trên? trong những lúc mọi người vui mừng vì tìm ra nguyên tố mới thì có người không vui cho lắm! Đó là nhà bác học Đức J.Liebig. Với lí do là vài năm trước một công ti hóa chất gửi cho ông một chai nước màu nâu như thế và yêu cầu đánh gia. Liebig đã không phân tích cẩn trọng chất lỏng ấy. Vậy nên khi nghe tin Balard được công nhận quyền ý tưởng với brom thì ông ta đã nói với mọi người: ” Không phải Balard đã tìm ra brom mà chính brom đã tìm ra Balard”

Antoine Jerome Balard
Antoine Jerome Balard

5


Phan Lang Onion

mẩu truyện thú vị về tác giả thật sự của Iot

Những năm đầu thế kỉ XIX, nước Pháp dưới sự lãnh đạo của Napoleong tham vọng bành trướng lãnh thổ bằng quân sự. Vậy nên họ đẩy mạnh sản xuất kali nitrat (KNO3) để sản xuất thuốc súng. Mà để có KNO3 thì phải có kali cacbonat K2CO3. Sản phẩm này duy nhất điều chế tro của rong biển lúc bấy giờ.

Nhà thầu khoán Coirtois khi lấy phần nước muối thải tác dụng với axit sunfuric đặc thì có hơi tím bay ra có mùi giống với clo.Và những hơi này kết tinh ngay thành những tinh thể đen óng ánh. Đó là iot.

Vậy thì tại sao Coirtois lại đổ H2SO4 vào nước thải? Nguyên nhân thực sự nằm ở chú mèo của ông! Khi nghịch ngợm, chính chú mèo của ông ta đã làm đổ axit vào đống tro rong biển! Và như thế iot được tìm ra!

Hơi iot có màu tím đặc trưng

6


Phan Lang Onion

Atatin vốn được Mendeleev tiên đoán

Năm 1870, Mendeleev đã tiên đoán nguyên tố này bằng bảng tuần hoàn với tên là ekaiot (có tức là giống iot. eka trong tiếng Nga tức là giống).
Atatin có chu kì bán hủy là 7,5 giờ (tức là sau 7,5 giờ atatin còn sót lại 1 nửa). Chỉ với cùng một chút sản phẩm Atatin nhưng những nhà khoa học đã nghiên cứu được một số tính chất hóa học và thấy nó giống với iot. Ngoài ra atatin còn thẻ hiện ít tính kim loại nhưng yếu. (Rất ít bài viết nói về Atatin do tính phóng xạ của nó nhưng nhân đây tôi cũng xin giới thiệu cho những bạn một chút về nguyên tố này)

Astatin là một nguyên tố phóng xạ
Astatin là một nguyên tố phóng xạ

7


Phan Lang Onion

Và những điều thú vị khác

  • Flo tác dụng được với khí hiếm. Ví dụ như Xenon: 2Xe + 3F2 —–> 2XeF3
  • Một số vai trò của flo
    Lá của một số loài cây có chứa flo và chúng trở thành rất độc.

Một số chất độc ấy như kali floaxetat (FCH2COOK) và chỉ 1g lá chứa chất này thôi rất có thể giết một con cừu!

Dù vậy flo vẫn đem lại lợi ích cho con người. Nghe trên quảng cáo kem đánh răng, chắc chắn những bạn sẽ nghe về nguyên tố này, vì nó giúp chống sâu răng. Nhưng để ý vì quá liều sẽ gây độc! Răng những bạn sẽ trở thành sẫm màu!
Ngoài ra nhựa nhân tạo teflon có khả năng chịu nhiệt đến 300 độ C và hoàn toàn cách điện.

Trong công nghiệp flo còn tách đồng vị urani 235 khỏi đồng vị tự nhiên urani 238, làm nhiên liệu cho ngành hạt nhân.

  • Một số hợp chất của clo và flo gây hại cho môi trường. Đó là phá hủy tầng ozon. Đặc biệt trong những chất ấy là chlorofluorocacbon (CFC) thường được dùng để làm lạnh. Nhưng ngày nay chất này đã được hạn chế.
Mặt chống dính của chảo từ teflon
Mặt chống dính của chảo từ teflon

Từ khóa: Top 7 điều thú vị về nhóm Halogen trong hóa học rất có thể bạn muốn biết, Top 7 điều thú vị về nhóm Halogen trong hóa học rất có thể bạn muốn biết, Top 7 điều thú vị về nhóm Halogen trong hóa học rất có thể bạn muốn biết

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *