Top 10 nam ngôi sao sáng điện ảnh Hollywood nổi tiếng nhất mọi thời đại

11-06-2021 10 1661 0 0

Báo lỗi

Điện ảnh Hollywood trở thành hình tượng văn hóa mỹ, và một trong những yếu tố làm nên tên tuổi của điện ảnh nước này có lẽ là yếu tố nhân vật, đặc biệt là những nam diễn viên – những ngôi sao sáng đã đạt nhiều phần thưởng cao quý trong giới phim ảnh. Vậy, bạn đã biết nam ngôi sao sáng Hollywood nào nổi tiếng nhất mọi thời đại, được rất nhiều người hâm mộ và yêu thích trên khắp trái đất là ai vẫn chưa? Nếu vẫn chưa hãy cùng toplist xem thêm ngay bài viết dưới đây nhé.

12345678910

1


Phương Kem

Humphrey Bogart

Humphrey DeForest Bogart, thường được biết tới với tên Humphrey Bogart (25 tháng 12 năm 1899 – 14 tháng 1 năm 1957) là một diễn viên huyền thoại của Điện ảnh Hoa Kỳ. Tuy chỉ một lần giành Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất nhưng ông được coi là một trong những diễn viên xuất sắc nhất của Hollywood, ông là người đứng đầu Danh sách 100 ngôi sao sáng điện ảnh của Viện phim Mỹ. Những bộ phim đáng nhớ của Bogart là The Maltese Falcon (1941), Casablanca(1942), To Have and Have Not (1944) và The African Queen (1951).

tổng số ông đã xuất hiện trong 75 bộ phim điện ảnh. Điều đáng để ý là tuy có một thời gian khá dài là diễn viên sân khấu, tham gia những bộ phim loại B hoặc nhận những vai phụ nhưng ngay lúc nhận được những vai có đất diễn, Bogart đã nhanh gọn nắm bắt và trở thành một trong những ngôi sao sáng lớn nhất mọi thời của Hollywood.

Humphrey Bogart
Humphrey Bogart


2


Phương Kem

Cary Grant

Archibald Alec Leach (18 tháng 1 năm 1904 – 29 tháng 11 năm 1986), nổi tiếng với nghệ danh Cary Grant, là một diễn viên người Mỹ gốc Anh. Với những dấu ấn có một không hai của tớ, ông thường được coi như đỉnh cao của sự phối kết hợp hài hòa giữa sự tự tin, ngoại hình, sự nam tính sức lôi cuốn quyến rũ.

He was named the second Greatest Male Star of All Time by the American Film Institute. Grant nổi tiếng qua những vai diễn trong The Philadelphia Story, North by Northwest, Notorious, His Girl Friday, To Catch A Thief, Bringing Up Baby và The Bishop’s Wife. Năm 1970, AMPAS trap tặng ông Giải Oscar danh dự “cho sự lão luyện vô song trong nghệ thuật điện ảnh cùng với sự kính trọng và yêu mến của đồng nghiệp”. Năm 1999, ông được Viện phim Mỹ xếp thứ 2 trong danh sách 100 huyền thoại điện ảnh mọi thời đại.

Cary Grant
Cary Grant

3


Phương Kem

James Stewart

James Maitland Stewart (20 tháng 5 năm 1908 – 2 tháng 7 năm 1997), thường được biết đến với tên Jimmy Stewart, là một nam diễn viên điện ảnh, sân khấu người Mỹ, nổi tiếng với đức tính khiêm tốn. Trong sự nghiệp hoạt động nghệ thuật của tớ, ông thường đóng vai chính trong những bộ phim kinh điển và 5 lần được đề cử Oscar và 1 lần giành giải, cho The Philadelphia Story. Ông cũng được viện phim Mỹ trao tặng giải Thành tựu trọn đời. Stewart cũng đều có một cuộc đời binh nghiệp hiển hách, được thăng đến cấp thiếu tướng trong Không quân Hoa Kỳ.

Suốt 7 thập kỉ ở Hollywood, Stewart đã tạo dựng một sự nghiệp phong phú với những vai diễn đáng để ý trong nhiều bộ phim kinh điển như Mr. Smith Goes to Washington, The Philadelphia Story, Harvey, It’s a Wonderful Life, Rear Window, Rope và Vertigo. Ông cũng một trong những ngôi sao sáng dẫn đầu trong 100 phim hay nhất và top 10 phim hay nhất thuộc 10 thể loại trong lịch sử điện ảnh Mỹ. Năm 2007, 10 bộ phim của ông được Viện lưu trữ phim vương quốc Mỹ chọn để bảo tồn.

Stewart đã dành nhiều phần thưởng cao quý trong điện ảnh và được trao tặng giải Thành tựu trọn đời của toàn bộ những tổ chức điện ảnh danh tiếng. Ông mất năm 1997, để lại một di sản đồ sộ, và được coi như một trong những diễn viên có đạo đức mẫu mực trong thế hệ vàng Hollywood. Ông được Viện phim Mỹ xếp thứ 3 trong số những huyền thoại màn bạc vĩ đại nhất mọi thời đại.

James Stewart
James Stewart

4


Phương Kem

Marlon Brando

Marlon Brando, Jr. (3 tháng tư năm 1924 – 1 tháng 7 năm 2004), thường được biết tới với tên Marlon Brando là một diễn viên nổi tiếng người Mỹ. Từng hai lần đoạt Giải Oscar Vai nam chính, Marlon Brando được coi là một trong những diễn viên có tác động nhất của lịch sử điện ảnh Mỹ, ông được xếp thứ 4 trong Danh sách 100 ngôi sao sáng điện ảnh của Viện phim Mỹ.

Brando được biết tới nhiều nhất qua những vai diễn trong hai bộ phim thập niên 1950 của đạo diễn Elia Kazan, Chuyến tàu mang tên dục vọng (A Streetcar Named Desire, 1951), On the Waterfront (1954) và hai bộ phim khác của đạo diễn Francis Ford Coppola thập niên 1970, Bố già (The Godfather, 1972) và Apocalypse Now (1979).

Bên cạnh sự nghiệp diễn xuất, Marlon Brando còn là nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng, đặc biệt là trong những hoạt động đấu tranh đòi quyền lợi cho người Mỹ gốc Phi và người Da đỏ thập niên 1960 và 1970. Để phản đối sự phân biệt đối xử với những người bản địa Mỹ, Marlon Brando đã từ chối nhận tượng vàng Oscar thứ hai cho vai diễn cực kì đáng nhớ của ông, Bố già Vito Corleone trong Bố già (1972).

Marlon Brando
Marlon Brando

5


Phương Kem

Fred Astaire

Fred Astaire (sinh ngày 10 tháng 5 năm 1899 – mất ngày 22 tháng 6 năm 1987) là một vũ công sân khấu kịch Broadway, biên đạo múa, ca sĩ và diễn viên từng giành được giải Oscar người Mỹ. Cuộc đời sân khấu và điện ảnh của ông nối dài 76 năm, Trong số đó ông cho ra mắt 30 bộ phim âm nhạc. Astaire có quan hệ đặc biệt với Ginger Rogers, người đóng 10 bộ phim cùng ông.

George Balanchine và Rudolph Nureyev đánh giá Astaire là một trong những vũ công xuất sắc nhất của thế kỷ 20 và ông cũng thường được thừa nhận là nghệ sĩ múa có tầm tác động nhất trong lịch sử điện ảnh và âm nhạc truyền hình. Astaire được Viện phim Mỹ bầu là một trong những ngôi sao sáng xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh.

Fred Astaire
Fred Astaire

6


Phương Kem

Henry Fonda

Henry Jaynes Fonda (16 tháng 5 năm 1905 – 12 tháng 8 năm 1982) là một diễn viên điện ảnh và sân khấu người Mỹ với sự nghiệp nối dài năm thập kỷ. Fonda đã sớm ghi dấu ấn của tớ với tư cách là một diễn viên sân khấu. Ông cũng xuất hiện vào năm 1938 trong những vở kịch được tiến hành ở White Plains, New York , với Joan Tompkins. Anh xuất hiện lần đầu tại Hollywood vào năm 1935 và sự nghiệp của anh đã có được động lực sau màn trình diễn được trao giải Oscar của anh với vai Tom Joad trong The G Nho of Wrath, bản chuyển thể năm 1940 của tiểu thuyết John Steinbeck về một gia đình Oklahoma di chuyển về phía tây trong Dust Dust.

Trong suốt năm thập kỷ ở Hollywood, Fonda đã nuôi dưỡng một hình ảnh màn hình mạnh mẽ, lôi cuốn trong những tác phẩm kinh điển như Sự kiện Ox-Bow , Mister Roberts và 12 Người đàn ông tức giận . Sau đó, Fonda chuyển cả hai hướng sử thi đậm như Sergio Leone ‘s Once Upon a Time ở phương Tây và vai trò nhẹ trong bộ phim hài gia đình như Yours, Mine and Ours với Lucille Ball , giành Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 54 cho bộ phim On Golden Pond , vai diễn phim sau cuối của anh ấy.

Fonda là tộc trưởng của một gia đình gồm những diễn viên nổi tiếng, gồm có con gái Jane Fonda , con trai Peter Fonda , cháu gái Bridget Fonda , và cháu trai Troy Garity. Gia đình và bè bạn tri kỷ thiết gọi anh là “Hank”. Năm 1999, ông được mệnh danh là lớp sáu Greatest Nam sao mọi thời đại do Viện phim Mỹ .

Henry Fonda
Henry Fonda

7


Phương Kem

Clark Gable

William Clark Gable (ngày 1 tháng 2 năm 1901 – ngày 16 tháng 11 năm 1960) là một nam diễn viên điện ảnh Hoa Kỳ, được biết đến nhiều qua vai Rhett Butler trong bộ phim năm 1939 về nội chiến Mỹ Cuốn theo chiều gió, đóng cặp cùng Vivien Leigh. Rhett đã mang đến cho ông đề cử Giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất; ông cũng giành giải Oscar cho phim It Happened One Night (1934) và được một đề cử cho vai diễn trong phim Mutiny on the Bounty (1935). Những vai diễn đáng nhớ tiếp theo là trong Run Silent, Run Deep và trong bộ phim sau cuối The Misfits (1961), đóng cùng Marilyn Monroe và đây cũng là lần sau cuối xuất hiện trên màn ảnh của cả hai người.

Trong sự nghiệp điện ảnh huy hoàng của tớ, Gable thường đóng cặp cùng những nữ diễn viên nổi tiếng nhất của thời đại. Joan Crawford, người mà Gable rất thích làm việc cùng, đã đứng cạnh ông trong 8 bộ phim, Myrna Loy đóng cùng ông 7 lần, và ông cũng cùng diễn với Jean Harlow trong 6 bộ. Gable cũng đóng cặp cùng Lana Turner trong 3 phim, và với Norma Shearer 3 lần. Gable luôn ở trong top những ngôi sao sáng danh tiếng nhất của thập niên 30.

Clark Gable
Clark Gable

8


Phương Kem

James Cagney

James Francis Cagney, Jr. (17 tháng 7 năm 1899 – 30 tháng 3 năm 1986) là một diễn viên và vũ công người Mỹ, cả trên sân khấu và trong phim, mặc dù ông đã có tác động lớn nhất trong phim. Được biết đến với màn trình diễn luôn tràn đầy năng lượng, phong thái thanh nhạc đặc biệt, và hài hước đúng thời điểm, ông đã giành được sự ngưỡng mộ và những phần thưởng lớn cho một loạt vai diễn.

Ông được nhớ đến nhiều nhất với vai kẻ cứng rắn nhiều cá tính trong những bộ phim như The Public Enemy (1931), Taxi! (1932), Angels with Dirty Faces (1938) và White Heat (1949), ông thậm chí bị chết vai dạng này trong suốt sự nghiệp của tớ. Trong năm 1999, Viện phim Mỹ xếp ông đứng thứ tám trong Danh sách 100 ngôi sao sáng điện ảnh. Orson Welles nói về Cagney rằng ông “có lẽ là diễn viên vĩ đại nhất xuất hiện trước ống kính” và Stanley Kubrick coi ông là một trong 5 diễn viên hàng đầu hay nhất mọi thời đại.

James Cagney
James Cagney

9


Phương Kem

Spencer Tracy

Spencer Tracy (5 tháng tư năm 1900 – 10 tháng 6 năm 1967) là một diễn viên nổi tiếng của điện ảnh Mỹ. Trong sự nghiệp nối dài hơn 30 năm từ 1930 đến 1967 ông đã tham gia 74 bộ phim và giành 2 Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất từ 9 lần được đề cử (kỷ lục của hạng mục này).


Tracy được coi là một trong những diễn viên xuất sắc nhất trong lịch sử Hollywood, nổi tiếng vì diễn xuất điêu luyện và đa dạng nhất, ông hoàn toàn có thể đóng vai anh hùng, kẻ ác hay diễn viên hài và luôn cho khán giả thấy khả năng nhập vai tuyệt vời. Năm 1999, ông được Viện phim Mỹ xếp thứ 9 trong những minh tinh màn bạc vĩ đại nhất mọi thời đại.

Spencer Tracy
Spencer Tracy

10


Phương Kem

Charlie Chaplin

Sir Charles Spencer “Charlie” Chaplin (16 tháng tư năm 1889 – 25 tháng 12 năm 1977), thường được biết đến với tên Charlie Chaplin (hay Vua hề Sác-lô) là một diễn viên, đạo diễn phim hài người Anh trở thành nổi tiếng trong kỷ nguyên phim câm. Chaplin trở thành một hình tượng toàn cầu trải qua nhân vật Tramp (Gã lang thang, hay còn có tên là Charlot trong tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và vài ngôn ngữ khác), thường được xem là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử ngành công nghiệp điện ảnh. Sự nghiệp của ông nối dài trên 75 năm, từ tuổi thơ trong kỷ nguyên Victoria cho tới một năm trước khi qua đời ở tuổi 88, đem lại nhiều lời tán dương cũng như tranh cãi.

Tuổi thơ của Chaplin ở Luân Đôn cực kỳ khổ cực và nghèo nàn, làm cho đường công danh về sau của ông trở thành “mẩu chuyện từ nghèo nàn tới giàu sang kịch tính nhất từng được biết đến”, theo người viết tiểu sử David Robinson. Cha mẹ ly thân năm ông 2 tuổi và cha bỏ mặc gia đình, để mẹ ông chật vật kiếm tiền, ông đã hai lần bị gửi vào trại tế bần trước khi lên 9. Năm Chaplin 14 tuổi mẹ ông phải vào trại tâm thần. Chaplin bắt đầu trình diễn khi còn nhỏ tuổi, lưu diễn ở những rạp hát và sau đó trở thành một diễn viên sân khấu, một nghệ sĩ hài. Ở tuổi 19 ông gia nhập công ty danh tiếng Fred Karno, và có chuyến đi thứ nhất tới Hoa Kỳ, nơi phát triển sự nghiệp của ông.

Chaplin bắt đầu tham gia đóng phim, và trình làng với phim Making a Living (1914) của Keystone Studios. Chaplin sớm hình thành nhân vật Tramp và tạo ra một lượng người hâm mộ lớn. Ông trở thành đạo diễn cho những bộ phim mình đóng, và ngày càng thành thục trong vai trò này khi chuyển tới những tập đoàn lớn Essanay, Mutual, và First National. Đến năm 1918, Chaplin trở thành một trong những nhân vật nổi danh nhất trên trái đất.

Năm 1919, Chaplin đồng sáng lập công ty United Artists để kiểm soát hoàn toàn quy trình sản xuất phim của riêng mình. Những năm 1940 là một thập niên đầy những tranh cãi đối với Chaplin, và danh tiếng của ông bị tác động nặng nề. Ông bị cáo buộc là có cảm tình với cộng sản, trong những lúc những vấn đề xoay quanh hôn nhân với những phụ nữ ít tuổi hơn nhiều và nghĩa vụ làm cha của những đứa con với những phụ nữ này gây ra một loạt vụ bê bối. FBI mở một cuộc điều tra, và Chaplin buộc phải rời Hoa Kỳ để tới Thụy Sĩ định cư. Ông từ bỏ nhân vật Tramp trong những phim về sau, gồm có Monsieur Verdoux (1947), Limelight (1952), A King in New York (1957), và A Countess from Hong Kong (1967).

Chaplin đã viết, đạo diễn, sản xuất, biên tập, diễn xuất và sáng tác nhạc cho hầu hết những phim ông tham gia. Ông là người cầu toàn, và sự độc lập tài chính được cho phép ông dành nhiều năm để phát triển và sản xuất một bộ phim. Những bộ phim của ông thường đặc trưng bởi tính pha trò phối kết hợp với tính cảm động, thể hiện trong cuộc đấu tranh của Tramp chống lại sự thù địch phía bên ngoài. Nhiều phim chứa những chủ đề chính trị và xã hội, cũng như những yếu tố tự truyện. Năm 1972, như một phần của sự tái công nhận giá trị sự nghiệp của ông, Chaplin nhận giải Oscar danh dự cho “tác động không thể đo đếm được của ông trong việc đưa điện ảnh thành hình thức nghệ thuật của thế kỷ này”. Ông tiếp tục được đánh giá cao tới tận ngày nay, với những tác phẩm như The Gold Rush, City Lights, Modern Times, và The Great Dictator được xếp vào danh sách những bộ phim xuất sắc nhất của mọi thời đại.

Charlie Chaplin
Charlie Chaplin

Từ khóa: Top 10 nam ngôi sao sáng điện ảnh Hollywood nổi tiếng nhất mọi thời đại, Top 10 nam ngôi sao sáng điện ảnh Hollywood nổi tiếng nhất mọi thời đại, Top 10 nam ngôi sao sáng điện ảnh Hollywood nổi tiếng nhất mọi thời đại

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *