Top 10 Món ăn ngon, phổ biến nhất ở Nhật Bản

28-04-2021 10 217 1 0

Báo lỗi

Trong những năm gần đây, Ẩm thực Nhật Bản trở thành quen thuộc và được đánh giá cao trên toàn toàn cầu. Nhiều khách đi du lịch Nhật Bản được nếm thử và cảm thấy thỏa mãn với những con cá sống hay như tôm chiên tẩm bột. Tuy nhiên, có rất ít khách du lịch lần trước tiên đến với Nhật Bản được thưởng thức và cảm nhận đầy đủ về sự đa dạng và bề ngoài lộng lẫy trong những món ăn nổi tiếng của Nhật Bản đúng như những món ăn truyền thống chính cống. Ăn uống tại Nhật là một trải nghiệm cực kì thích thú và đáng để nhớ cho chuyến đi du lịch Nhật Bản của mỗi người. Văn hóa Nhật Bản ngoài trà đạo ra chúng ta cần phải nói về những món ăn của Nhật Bản Trong số đó cần phải kể tới rất nhiều những món ăn và đặc sản địa phương. Hãy cùng Toplist khám phá nền ẩm thực Nhật Bản qua những món ăn ngon và phổ biến nhất qua bài viết dưới đây nhé

12345678910

1


Hạ Thiên

Sushi

Nhắc tới Nhật Bản, ta nhớ ngay đến món sushi truyền thống. Nguyên liệu quan trọng nhất để làm món này là cơm trắng trộn giấm, phối hợp với những loại đồ ăn khác như rong biển, trứng rán, những loại thủy hải sản như cá sống, bạch tuộc, mực, tôm, trứng cá hồi hoặc rau củ… vì vậy nên có nhiều biến tấu không giống nhau của sushi. toàn bộ đều rất có thể dùng kèm với nước tương hoặc mù tạt wasabi cay nồng đặc trưng của xứ sở mặt trời mọc. Từ xưa, người Nhật đã biết cách ủ cá, tôm, thủy hải sản vào nắm cơm để giữ được mùi vị thơm ngon. Khi ủ, cơm thường được trộn với cùng một chút giấm cho chua chua ngọt ngọt. Mà cũng chính vì thế mà cá ủ trong cơm được chuyển hóa thành sushi.

Loại cơm trộn giấm để làm sushi được gọi là sumeshi hoặc sushimeshi. Loại giấm để nấu cơm này không phải giấm thông thường mà là giấm có pha muối, đường, rượu ngọt Mirin, vì thế gọi là giấm hỗn hợp awasesu. Giấm này được chuyên dùng để chế biến sushi, nên còn được gọi là sushisu. Cơm sau khi được nấu xong (nấu không chín hoàn toàn như cơm bình thường) sẽ được cho vào một chậu gỗ gọi là tarai và trộn với giấm. Cơm vừa được trộn vừa được nghệ nhân sushi dùng quạt tay để quạt cho hơi nóng thoát ra ngoài, giúp cho giấm giữ được hương vị. những loại thủy hải sản dùng để làm sushi gọi là Neta. Neta rất có thể là cá ngừ, cá hồi, cá chình, cá nóc, cá thu, tôm (nhất là loại tôm mà người Nhật gọi là sakura ebi), mực, bạch tuộc, những loại ốc biển, cua biển… rất có thể dùng gạo lứt để làm sushi cho người ăn kiêng.

Sushi
Sushi
Sushi
Sushi


2


Hạ Thiên

Onigiri

Onigiri tức là cơm nắm. Ngày nay, món ăn này phổ biến đến nỗi bạn cũng rất có thể tìm mua ngay trong những Shop tiện lợi của Việt Nam cũng như Nhật Bản. Cơm nắm, đúng như cái tên, được làm chủ yếu từ cơm được nắm chắc lại thành hình tròn hay tam giác, nhân bên trong rất có thể là cá ngừ, cá hồi hoặc mơ muối, giờ đây xuất hiện thêm những “biến tấu” khác như thanh cua, gà teriyaki, hoặc tôm chiên tempura. Bọc ngoài cơm nắm là một miếng rong biển khô. Đây là món ăn vừa bổ dưỡng, vừa tiện lợi giành riêng cho những người bận rộn không tồn tại nhiều thời gian để chuẩn bị bữa ăn. Từ giai đoạn Kamakura đến đầu giai đoạn Edo, onigiri được dùng trong bữa ăn nhanh. Điều này có ý nghĩa sâu sắc vì đầu bếp chỉ việc nghĩ làm thế nào để làm đủ onigiri mà không cần lưu tâm đến việc phục vụ. Onigiri lúc bấy giờ chỉ là nắm cơm có rắc muối. Việc thêm nori vào onigiri chỉ trở thành rộng rãi kể từ giai đoạn Meiji khi nori được trồng và làm thành tấm mỏng phổ biến.

Trước đây người ta cho rằng onigiri không thể được sản xuất với máy móc vì kĩ thuật nắn thành nắm quá khó để máy móc rất có thể tiến hành được. Vào những năm 1980, máy làm onigiri hình tam giác được chế tác. Lúc đầu nó đã phải đương đầu với những người hoài nghi nhờ vào việc thay cho cuộn phủ thứ được thêm vào, thứ thêm vào này chỉ việc được đặt vào lỗ trong onigiri và lỗ này được nori che phủ. Thêm vào đó, onigiri làm bằng máy này luôn được bọc sẵn nori, và sau một thời gian nori trở thành ẩm và dính. Lối bảo phủ đã được cách tân bằng phương pháp được chấp nhận nori được bọc riêng biệt với cơm. Vào lúc dùng, người ăn rất có thể mở gói nori và bọc lên onigiri. Việc thành phần thêm vào onigiri được lắp vào thay cho được cuộn bọc, vốn là một hạn chế, nhưng lại làm cho việc thay đổi thành phần được dễ dàng.

Onigiri
Onigiri
Onigiri
Onigiri

3


Hạ Thiên

Cơm cà ri

Dù không tồn tại nơi sản xuất từ Nhật Bản, nhưng cơm cà ri lại rất phổ biến ở Nhật trong hơn một thế kỉ nay, kể từ thời Minh Trị. Cà ri Nhật không cay và nồng như cà ri Ấn Độ, thường có vị nhẹ và ngọt hơn, nước sốt được nấu với những loại rau như cà rốt, khoai tây, củ hành và thịt rồi được chan lên cơm nóng. Món này rất có thể ăn kèm với dưa chuột muối hoặc một lát thịt heo chiên xù tùy sở thích người ăn. Cùng với nước sốt, nhiều loại rau và thịt được sử dụng để làm cà ri Nhật Bản. những loại rau cơ bản là hành tây, cà rốt và khoai tây. Thịt bò, thịt lợn và thịt gà là những lựa chọn thịt phổ biến nhất. Katsu-karē là một món thịt tẩm bột chiên giòn với nước sốt cà ri Nhật Bản.

Cà ri được giới thiệu đến Nhật Bản trong thời đại Minh Trị (1868 – 1912), vào thời điểm tiểu lục địa Ấn Độ nằm dưới sự thống trị của thực dân bởi Đế quốc Anh. Đến những năm 1870, cà ri bắt đầu được phục vụ ở Nhật Bản và trở thành món ăn chính trong cơ chế ăn uống của người Nhật. Mãi đến đầu thế kỷ XX, khi cà ri được Hải quân và Quân đội Nhật Bản trải qua, món ăn này bắt đầu trở thành phổ biến với người Nhật. Sau khi được tiếp đón thuận lợi trong Quân đội và Hải quân Nhật Bản, nó trở thành phổ biến trong những nhà ăn ở trường. Vào những năm 2000, cà ri là một bữa ăn thường xuyên hơn sushi hoặc tempura.

Cơm cà ri
Cơm cà ri
Cơm cà ri
Cơm cà ri

4


Hạ Thiên

Súp miso

Súp miso Hình như xuất hiện trong mọi bữa ăn của người Nhật Bản, bất kể là bữa sáng, trưa hay chiều tối. Nước súp gồm nước dùng dashi (được nấu từ cá khô, tảo bẹ khô và cá ngừ bào), bột miso và những nguyên liệu như rong biển xắt nhỏ và đậu phụ. Ngoài ra còn có nhiều biến thể súp miso khác như thêm vào cá, nấm, cua, củ cải, nghêu, khoai tây… tùy sở thích của người ăn và tùy đặc trưng của mùa, của vùng miền. Sự lựa chọn tương miso cho canh tương rất quan trọng vì quyết định rất nhiều đến khí sắc riêng và hương vị của canh. Tương miso rất có thể được phân thành nhiều loại như red color (akamiso), white color (shiromiso), hoặc trộn cả hai (awase). Có nhiều biến thể trong những mùi vị này, Trong số đó có sự không giống nhau giữa những khu vực, chẳng hạn như tương miso của Shinshū hoặc miso của tỉnh Sendai.

Nước dùng phổ biến nhất đó là dashi nó hay được dùng cho món súp miso dashi thường được làm bằng cá khô (cá mồi nhỏ phơi khô), tảo bẹ khô (còn gọi là rong biển khô), cá ngừ bào (cá ngừ bào mỏng khô và hun khói, còn được biết đến là cá ngừ vằn), hoặc từ nấm đông cô khô (nấm đông cô phơi khô). Tảo bẹ khô cũng rất có thể được sử dụng phối hợp với cá ngừ bào hoặc nấm đông cô và nhiều thứ khác để tạo thành dashi. Nước dùng từ tảo bẹ và nấm đông cô được phục vụ như một món súp chay cho người dân Nhật Bản. Theo Nhật Bản nguyên liệu nó luôn được thay đổi theo vùng miền hoặc theo mùa và thời tiết khí hậu. những thành phần nguyên liệu được chọn để cung ứng sự tương phản của màu sắc, kết cấu, và hương vị súp. Do đó hành và đậu phụ, hai thành phần chính luôn được chọn để làm nổi trội hương vị súp. Thành phần nổi trên chén xúp, chẳng hạn như tảo bẹ khô rong biển và những thành phần chìm, rất có thể gồm có nấm, khoai tây, rong biển, hành tây, tôm, cá và củ cải trắng xát nhỏ hoặc thái lát.

Súp miso
Súp miso
Súp miso
Súp miso

5


Hạ Thiên

Tempura

Tempura là tên thường gọi dùng để chỉ những món rau củ hay thủy hải sản tẩm bột mì và được rán ngập trong dầu. Thời gian chế biến thường ngắn nhằm giữ hương vị cho món ăn. Tempura phổ biến nhất là tempura tôm. những món tempura thường được chấm với xì dầu hoặc wasabi, hoặc ăn kèm với cơm nắm, với những loại mì Nhật Bản, hoặc nhấm nháp với bia như một món ăn kèm thú vị. Tempura được người Nhật Bản lẫn du khách quốc tế, từ già đến trẻ yêu thích bởi độ giòn tan thú vị và cách chế biến đơn giản, dễ tiến hành. Đây là một món ăn khá phổ biến trong những bữa ăn của người Nhật, từ bữa ăn dạng cơm hộp cho tới những bữa party cao cấp. Trên toàn cầu, tempura cùng với sushi là những món ăn Nhật Bản được biết đến nhiều nhất.

Cái làm nên sự khác lạ giữa tempura với những món có tẩm bột rán chẳng hạn như ebifurai đúng là bột, dầu và nước chấm và gia vị ăn kèm. Bột để làm tempura là thứ hỗn hợp nhão của bột mì, lòng trứng gà và nước nguội. Dầu để rán là hỗn hợp dầu ăn thông thường với dầu vừng. Nước chấm hoặc gia vị chấm tùy từng sở thích của mỗi người hay tùy mỗi Shop, rất có thể là xì dầu (ngày nay có loại xì dầu chuyên giành riêng cho tempura được chế sẵn), muối tinh. cũng đều có người Nhật và quán ăn ở Nhật dùng hỗn hợp gia vị có pha wasabi để chấm tempura. Lại có nơi mài củ cải tươi ra trộn vào xì dầu để chấm. Thành phần chính trong nguyên liệu làm tempura là những loại thủy hải sản, phổ biến nhất là tôm, mực, cá, một số loại rau củ như bí ngô, cà dái dê, khoai lang, lá tía tô, ớt ngọt, đậu bắp. Tempura được dùng khi uống bia, rượu, ăn với cơm hoặc với mì soba, udon.

Tempura
Tempura
Tempura
Tempura

6


Hạ Thiên

Sashimi

Sashimi là món thịt thủy hải sản sống của Nhật Bản, được cắt miếng mỏng cực kì điệu nghệ, dọn ra ăn sống mà không tẩm ướp thêm bất kì gia vị nào vào món thủy hải sản, thực khách rất có thể chấm cùng với nước tương hoặc wasabi tùy khẩu vị. Chẳng có gì đơn giản và cũng phức tạp hơn món ăn tưởng chừng dễ tiến hành này. Người đầu bếp phải ghi nhận lựa chọn loại thủy hải sản tươi ngon nhất để phục vụ thực khách, và phải nắm vững từng bộ phận trên cơ thể một con cá, con tôm hay bạch tuộc, chưa kể đầu bếp phải có kĩ năng dùng dao điêu luyện để thái những lát thủy hải sản vừa miệng người ăn. Vì thế muốn thưởng thức sashimi thực sự ngon, bạn phải đến những nhà hàng cao cấp.

Sashimi thường là món trước tiên trong bữa ăn trang trọng ở Nhật, nhưng cũng rất có thể làm món chính, ăn cùng với cơm và một chén súp Miso riêng. Nhiều người Nhật cho rằng sashimi, theo truyền thống được xem là món cá hảo hạng của ẩm thực Nhật, phải được ăn trước để tránh những món có mùi nặng làm tác động đến khẩu vị. Trong ẩm thực, sashimi được xem là nét văn hoá Nhật tôn vinh sự tinh ý. Cảm giác tinh khiết rất có thể biến đổi từ cá hồi (loài cá không phải là truyền thống của Nhật) đến cá mực. Miếng thủy hải sản cắt lát, thành phần chính của món ăn, thường được bọc trong rau củ trang trí. Rau củ trang trí điển hình là củ cải trắng, củ cải Nhật (daikon) cắt sợi, cùng với cùng một lá tía tô.

Sashimi
Sashimi
Sashimi
Sashimi

7


Hạ Thiên

Ramen

Ramen là một loại mì có nét giống với mì kéo của Trung Quốc, nhưng cầu kì hơn ở nước dùng và có sự khác lạ trong những loại nguyên liệu ăn kèm. Thành phần chính của nước dùng vẫn là dashi, nhưng việc phối hợp nó với những loại xương hầm như xương gà, xương heo, tảo bẹ hay những loại nấm… là công thức riêng của mỗi Shop. Món mì được chan nước dùng nóng ăn kèm với trứng luộc, măng khô, một lát thịt heo và rau tươi như hành lá, hạt bắp, tỏi xay hay rong biển khô tùy vào cách chế biến mỗi nơi. Đây là món ăn đêm nổi tiếng của Nhật Bản, thường được bán tại những quầy ăn ven đường. Ramen có nhiều dạng và độ dài sợi không giống nhau. Nó rất có thể dày, mỏng, hoặc thậm chí chỉ mỏng như sợi ruy băng, cũng như rất có thể thẳng hoặc nhăn nheo.

Có một loạt những loại món ramen tồn tại ở Nhật Bản, với sự khác lạ về địa lý và nhà cung ứng cụ thể, trong cả trong những phân loại sẻ chia cùng tên. Ramen rất có thể được phân loại bởi hai thành phần chính: sợi mỳ và nước dùng. Có một loạt những loại món ramen tồn tại ở Nhật Bản, với sự khác lạ về địa lý và nhà cung ứng cụ thể, trong cả trong những phân loại sẻ chia cùng tên. Ramen rất có thể được phân loại bởi hai thành phần đúng là sợi mỳ và nước dùng. Kansui là thành phần phân biệt trong mỳ ramen và có nguồn gốc từ vùng Nội Mông, nơi mà một số hồ chứa một lượng lớn những chất khoáng này và có loại nước được cho là hoàn hảo để làm món mỳ này. Làm mỳ với kansui khiến cho mỳ có một màu vàng cũng như một kết cấu vững chắc. Trứng cũng rất có thể được thay thế cho kansui. Một vài loại mỳ không làm từ trứng hay kansui và chỉ nên được sử dụng cho yakisoba, vì chúng có một cấu trúc yếu hơn và trở thành cực kỳ mềm khi nấu mỳ nước.

Ramen
Ramen
Ramen
Ramen

8


Hạ Thiên

Sukiyaki

Sukiyaki là món lẩu Nhật Bản nấu trong nước dùng gồm nước tương, đường và rượu ngọt mirin, ăn với thịt bò thái lát mỏng, những loại rau củ và đậu phụ. Khi ăn, người ta đập trứng sống vào một chén riêng, sau đó gắp thịt bò ra từ nồi lẩu, nhúng vào hỗn hợp trứng sống như nước chấm rồi mới cho vào miệng. Món này thường được ăn vào những ngày mùa đông lạnh giá, trong lượt hội họp bè bạn hay chỉ đơn thuần là cùng gia đình quây quần quanh nồi lẩu ấm cúng. Nếu là một tín đồ của ẩm thực Nhật Bản, chắn hẳn những bạn sẽ biết đến món sukiyaki, đây là một trong những món lẩu nổi tiếng được vinh danh trong hàng tinh hoa ẩm thực của xứ sở hoa anh đào cùng với Sushi, Tempura, Sashimi… Sukiyaki là một món ăn cao cấp với nguyên liệu thượng hạng, cách nấu và cách thưởng thức độc đáo, là món ngon đặc biệt thường được dùng trong những buổi tiệc liên hoan, chiêu đãi.

Tuy nhiên, món ăn này cũng còn tương đối mới mẻ với nhiều người, vì vậy hôm nay Toplist sẽ giúp bạn tìm hiểu sukiyaki là gì, những nguyên liệu tạo chính và cách thưởng thức. Những miếng thịt bò thượng hàng được thái thật mỏng, nhúng sơ qua nước lẩu rồi chấm vào chén trứng gà sống đánh nhuyễn, độ nóng của thịt bò làm trứng chín và tạo thành một lớp mỏng xung quanh bên phía ngoài. Vị mềm ngọt của thịt bò hòa cùng vị béo bùi của trứng rất thú vị, đã ăn một lần thì sẽ không khi nào quên. Là một món ăn cao cấp nên lẩu sukiyaki được chế biến từ những nguyên liệu thương hạng. Thịt bò là nguyên liệu chính, rất có thể là bò Úc hoặc bò Kobe, thịt bò ở Nhật bản khá đắt nên món này thường được ăn trong những dịp đặc biệt hoặc sau ngày lãnh lương. Thịt bò sẽ được thái thành những lát to và mỏng để khi nhúng thịt nhanh chín, thấm gia vị đậm đà và đem lại vị mềm ngọt, dễ ăn.

Sukiyaki
Sukiyaki
Sukiyaki
Sukiyaki

9


Hạ Thiên

Takoyaki

Takoyaki là một trong những món ăn đường phố nổi tiếng nhất Nhật Bản. Thực chất nó là món bánh nhân bạch tuộc được nướng trong khuôn tròn cho tới khi đủ độ chín, ăn kèm với cá bào khô và những loại sốt Nhật, rất có thể thêm hành lá tùy thích. Takoyaki thường được ăn nóng, lớp vỏ bên phía ngoài giòn, bên trong là lớp bột bánh mềm với bạch tuộc nhai sần sật rất vui miệng, được giới trẻ Việt Nam yêu thích trong những năm gần đây. Cách ăn lúc đầu của takoyaki là cứ bỏ vào miệng nhai chứ không tồn tại nước sốt. Nước sốt của món này chỉ bắt đầu được làm sau chiến tranh toàn cầu thứ hai vào năm 1948. những Shop không giống nhau rất có thể điều chế nước sốt theo công thức riêng với những hương vị không giống nhau.

Takoyaki lúc đầu được bán tại Osaka nơi ở của một người bán đồ ăn đường phố có tên Endo Tomekichi thường làm món bánh nướng bọc nhân thịt bò chấm nước tương, nhưng sau khi ăn thử món akashiyaki và bị ấn tượng mạnh vào năm 1935 thì ông đã chuyển sang làm nhân bạch tuộc và gọi nó là takoyaki. Món này sau đó trở thành nổi tiếng tại vùng Kinki trước khi lan ra toàn Nhật Bản. những tạp chí bắt đầu giới thiệu về nó trước chiến tranh toàn cầu thứ hai như một món ăn đặc sản của Osaka làm cho những người nấu món này cũng nhiều hơn thế nữa. lúc đầu món ăn được bán trong những quầy chế biến thực phẩm yatai tại những dịp lễ hội nhưng sau đó những nhà hàng chuyên phục vụ takoyaki đã mọc lên và đến năm 1955 thì đã có 5000 nhà hàng và quán ăn phục vụ món này riêng ở Osaka. Hiện tại thì takoyaki cũng được bán thành những vỉ/phần làm sẵn tại siêu thị. Cũng như gần đây thì loại bánh này bắt đầu đi ra ngoài Nhật Bản đến những nước khác.

Takoyaki
Takoyaki
Takoyaki
Takoyaki

10


Hạ Thiên

Mochi

Mochi là một loại bánh giầy nhân ngọt truyền thống của Nhật Bản làm từ bột gạo nếp hay gạo nếp giã nhuyễn không những được dùng để ăn trong cuộc sống mỗi ngày mà còn là vật phẩm dâng lên thần linh và có ý nghĩa sâu sắc mang lại may mắn. Bánh Mochi là vật cúng không thể thiếu trong những gia đình Nhật Bản nhân dịp năm mới. Họ bày trí Mochi ở hốc tường Toko-noma trang trọng trong phòng khách hoặc trong nhà bếp. Những chiếc bánh này được gọi là Kagami-mochi, tức bánh Mochi dâng lên thần linh. Ngày Tết, Tết Trung Thu, người Nhật cúng bánh Mochi để cầu nguyện cho sự trường thọ. Vào những ngày truyền thống, người Nhật cột bánh Mochi trên thanh tre dài rồi nướng trong đống lửa. Họ tin rằng khi ăn bánh Mochi nướng tại lễ Dondo-yaki sẽ mang lại sức khỏe cho suốt cả năm. Bánh Mochi cũng đều có mặt trong lễ dựng nhà mới Choto-shiki của người Nhật.

Người ta chọn loại gạo nếp ngon, đồ kỹ (rất có thể đồ hai lượt), rồi giã trong cối tới khi có được một khối bột nếp chín dẻo quánh. Thường chỉ những nam thanh niên mới làm điều này, vì nếu giã không nhuyễn khi ăn hạt gạo sẽ mất ngon, dễ bị hỏng bánh. Đối với loại mochi có nhân: Pha một giọt màu thực phẩm với cùng một chén nước sao cho nước có màu sắc như ý (hoặc không cần màu thực phẩm). Trộn đều bột nếp, đường và nước màu, lưu ý bột nếp làm vỏ bánh sau khi hấp sẽ rất dẻo và dính nên cần cho từ từ từng chút nước vào cho tới khi hỗn hợp bột thành 1 khối dẻo hơi khô. Lấy màng bọc thực phẩm bọc bột đã nhào. Sau đó cho vào lò vi sóng quay 3 phút cơ chế high. Sau đó lấy bánh ra và trộn lại lần nữa bằng muỗng gỗ trong 20 giây, tiếp đến lấy màng bọc lại, cho vào lò vi sóng một lần nữa rồi quay trong một phút thì lấy ra, nhanh tay khuấy bột theo đường tròn khoảng 30 giây nữa để làm bột dai.

Mochi
Mochi
Mochi
Mochi

Từ khóa: Top 10 Món ăn ngon, phổ biến nhất ở Nhật Bản, Top 10 Món ăn ngon, phổ biến nhất ở Nhật Bản, Top 10 Món ăn ngon, phổ biến nhất ở Nhật Bản

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *