Top 10 loài động vật nhanh nhất có thể trái đất

25-05-2021 10 1397 2 1

Báo lỗi

Trong trận đánh tồn tại, những loài động vật phải cố gắng thích nghi với trái đất tự nhiên nếu không muốn bị đào thải. Trong cuộc đua khốc liệt này, nhiều loài động vật đã tiến hóa theo hướng tăng thêm tốc độ của tớ để săn mồi hoặc chạy trốn kẻ thù. Trong trái đất tự nhiên có muôn vàn những loài động vật nhưng loài động vật nào mới thực sự là “vua tốc độ” của muôn loài, và là loài động vật nhanh nhất có thể. Hãy cùng Toplist tìm hiểu những loài động vật nhanh nhất có thể trái đất qua bài viết dưới đây bạn nhé.

12345678910

1


Lee Jue

Báo Cheetah (Báo săn)

Cheetah còn có nhiều tên thường gọi khác như báo bờm, báo đốm châu Phi, báo Gepard (ghê-pa) và báo săn. Môi trường sống tự nhiên của chúng là đồng cỏ, rừng thưa và bán sa mạc. Một con báo săn trưởng thành cân nặng trung bình vào khoảng 65 đến 70 kg, thậm chí lên đến 72 kg. Tổng chiều dài cơ thể từ 1,1 m đến 1,5 m, báo săn trưởng thành rất có thể dài từ 1,5m đến 2m. vẫn chưa kể cái đuôi dài 60 đến 84 cm. Những số đo đều cho thấy loài này xứng đáng thuộc hàng siêu mẫu trong giới họ nhà mèo nói riêng và giới động vật nói chung với cái bụng thon và dáng dài. Đây là loài vật được biết đến với tốc độ siêu việt rất có thể đạt đến 120 km/h với cấu trúc cơ thể thon gọn, mảnh mai và cao nhỏng. Tốc độ chóng mặt này được chúng duy trì trong tầm cách dưới 300m.

Do cấu trúc phần xương ống được thiết kế hoàn hảo, bộ khung xương của chúng nhẹ và đặc biệt là khoảng 60% trọng lượng cơ bắp định vị trên xương sống. Xương sống nối dài và chụm lại bổ sung lực giúp cho sải chân của chúng rộng thêm 0,7m, khiến Cheetah đạt gần 8m trong những bước chạy. Loài báo Cheetah này chỉ việc 4 bước là đạt tốc độ tối đa trong điều kiện không tồn tại vật cản. Đây là tuyệt kỹ cho những sải chân thần tốc, giúp nó rất có thể tiến hành một cuộc tăng tốc ngoạn mục. Theo những nhà khoa học, khi rượt đuổi con mồi và có được đỉnh cao về thể lực, báo Cheetah chỉ việc vài giây để rất có thể đạt được tốc độ hơn 120km/h (tương đương 33 mét/giây). Ngoài hươu, nai, báo Cheetah có khả năng săn linh dương, ngựa nhờ khả năng chạy rất nhanh như một vận động viên đến đoạn nước rút và dùng hàm răng siết chặt họng con mồi.

Báo Cheetah (Báo săn)
Báo Cheetah (Báo săn)


2


Lee Jue

Dơi không đuôi

Dơi không đuôi được tìm thấy ở Brazil, Argentina, Bolivia, Chile, Mexico, Mỹ… là loài có tốc độ đáng ngạc nhiên trong số những loài động vật trên cạn. Đôi cánh dài, hẹp và có những đầu nhọn giúp cho loài dơi này đạt tốc độ bay trên không khoảng 96,6 km/h, đồng thời giữ được tốc độ ổn định. Nhiều nhà khoa học cho rằng loài dơi này từng được lực lượng không quân Mỹ sử dụng để vận chuyển những quả bom nhỏ vào lãnh thổ Nhật Bản trong chiến tranh trái đất thứ 2.

Theo Fox news, loài dơi không đuôi Brazil rất có thể bay với tốc độ gần 160km/h, vượt xa tốc độ 96,6 km/h của dơi không đuôi Mexico – loài có tốc độ đáng ngạc nhiên trong số những loài động vật trên cạn, hay so với báo cheetah được cho là loài nhanh nhất có thể trái đất, với tốc độ chạy rất có thể đạt đến 112-120 km/h.

Dơi không đuôi
Dơi không đuôi

3


Lee Jue

Pronghorn

Pronghorn là loài có họ hàng với dê, nhưng lại có hình dáng dễ gây nhầm lẫn với linh dương. Đôi chân khỏe giúp chúng chạy và duy trì tốc độ ổn định. Pronghorn được coi là một trong những loài động vật nhanh nhất có thể ở Bắc Mỹ với tốc độ trung bình 88,5 km/h, khi chạy nước rút đạt 98 km/h và rất có thể duy trì tốc độ từ 59 – 65 km/h. Con đực trưởng thành dài 1,3 – 1,5m từ mũi đến đuôi, chiều cao 81 – 104 cm và cân nặng 36 – 70 kg. Con cái cùng chiều cao như con đực nhưng cân nặng 41 – 50 kg. Chân có hai móng, không tồn tại móng huyền.

Hiện nay, loài Pronghorn không tồn tại kẻ thù thực sự. Chúng là những động vật có vú nhanh nhất có thể ở Bắc Mỹ và rất có thể nhảy cao từ 3 đến 6 mét. Kết quả là, con trưởng thành hiếm khi trở thành con mồi của những loài động vật săn mồi khác. Chó sói, chó sói Bắc Mỹ, sư tử núi và đại bàng vàng rất có thể giết chết con non sau khi sinh một vài ngày, nhưng trong cả điều này là không phổ biến, do khi linh dương nhỏ rất có thể bỏ ra hàng giờ cúi thấp giữa những thảm thực vật và không tiến hành bất kỳ chuyển động rất có thể khiến con mồi phát hiện. Một vài tuần sau khi sinh và tiếp tục dừng chân ẩn của mẹ mình, con non nhanh hơn so với những con thú săn.

Pronghorn
Pronghorn

4


Lee Jue

Springbok

Springbok là một loài dinh dương gazen ở Nam Phi. Đây là loài động vật khá gần gũi, rất có thể sống cùng đàn với linh dương đầu bò hay đà điểu. Chúng sống chủ yếu ở tây-nam châu Phi. Springbok là một loài động vật nhanh nhẹn và rất có thể đạt tốc độ 88 km/h. Ngoài tốc độ nhanh, loài này còn có khả năng nhảy lên cao khoảng 4m. Tuy nhiên, khác với pronghorn, loài springbok không thể chạy quãng đường dài và vẫn bị những con báo cheetah hay báo đốm săn đuổi.

Springbok là một loài động vật có vú trong họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Zimmermann mô tả năm 1780. Loài này sinh sống ở tây-nam châu Phi. Springbok có tốc độ rất nhanh, chúng có thân hình thanh mảnh, cổ dài, với tổng chiều dài 150 – 195 cm và sừng có ở cả con đực và con cái. Con trưởng thành cao từ 70 đến 90 cm đến vai, tùy thuộc vào trọng lượng và giới tính, chúng có cân nặng từ 30 đến 44 kg cho con cái và 33 và 48 kg cho con đực. Đuôi dài 15 – 30 cm.

Springbok
Springbok

5


Lee Jue

Linh dương đầu bò xanh (Wildebeest)

Linh dương đầu bò xanh (Wildebeest) là loài thuộc họ linh dương, có nguồn gốc từ châu Phi, có hình dáng giống bò và linh dương, sừng ngắn và sắc. Chúng thường di chuyển thành đàn lớn để gây khó khăn cho kẻ săn mồi. Hai giống cái và đực của loài Wildebeest đều có khả năng chạy nhanh với tốc độ khoảng 80,5 km/h. Loài này rất có thể sống đến 20 năm. Linh dương đầu bò xanh có 5 phân loài. Linh dương đầu bò có bờ vai rộng vạm vỡ, diện mạo nặng mặt tiền, cùng chiếc mõm đặc biệt chắc khỏe. Linh dương non khi sinh ra có màu vàng nâu, bắt đầu chuyển màu trưởng thành khi đạt 2 tháng tuổi. Độ biến thiên màu sắc lông thú trưởng thành khoảng từ màu đá sẫm hoặc xám xanh đến xám nhạt hoặc thậm chí nâu xám. Cả hai giới sở hữu cặp sừng rộng và cong.

Linh dương đầu bò xanh là loài ăn cỏ, kiếm ăn chủ yếu trên đồng cỏ ngắn. Đàn linh dương di chuyển theo kết cấu lỏng lẻo, chúng chạy nhanh và cực kỳ cảnh giác. Mùa giao phối bắt đầu vào cuối mùa mưa và một con non duy nhất được sinh ra sau thời gian mang thai khoảng 8 tháng rưỡi. Con non vẫn còn đấy đấy ở với mẹ trong 8 tháng, sau thời gian đó nó tham gia vào đàn linh dương non. Linh dương đầu bò xanh sinh sống trên đồng bằng cỏ ngắn giáp ranh xavan được che phủ bởi những bụi keo tại miền nam và miền đông châu Phi, phát triển mạnh tại khu vực không quá ẩm ướt hoặc không quá khô cằn. Mỗi năm, vài quần thể linh dương đầu bò xanh tại Đông Phi tham gia hành trình di cư đường dài, có vẻ thời gian trùng với lượng mưa và lượng cỏ mọc theo khuôn mẫu địa phương.

Linh dương đầu bò xanh (Wildebeest)
Linh dương đầu bò xanh (Wildebeest)

6


Lee Jue

Blackbuck

Blackbuck là một loài linh dương có nguồn gốc từ Ấn Độ. Đặc trưng của loài này là đôi sừng xoắn dài có hình chữ V. Blackbuck hiện đã tuyệt chủng ở Nepal, Pakistan và Bangladesh, số lượng loài này trên trái đất chỉ còn khoảng 500 con. Blackbuck cũng được biết đến với tốc độ ngạc nhiên trong trái đất động vật với tốc độ chạy đạt 80 km/h, loài này thuộc họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Được IUCN phân là loài sắp bị đe dọa từ năm 2003, do phạm vi sinh sống giảm mạnh trong thế kỷ 20. Tên của chi bắt nguồn trong tiếng Latin từ antalopus, động vật có sừng.

Blackbuck có sự tương đương với linh dương gazelle, được tìm thấy trên bán đảo Ả Rập. Linh dương đen mảnh mai với chiều dài thân khoảng 120 cm, bờ vai cao khoảng 73,7 đến 83,8 cm, con đực lớn hơn con cái, con đực trưởng thành cân nặng trong tầm 34 đến 45 kg, con cái nặng 31 đến 39 kg, đuôi ngắn và nén. Cả con đực và con cái đều có phần lông white color dưới bụng, ngực, quanh mắt, cằm, vòm miệng, phần mông và ở mặt trong của 4 ống chân. Blackbuck đực gần như trở thành màu đen khi đạt độ tuổi nhất định, chỉ sau gáy vẫn còn đấy đấy red color hơi nâu và đường nhạt màu 2 bên sườn biến mất. Thông thường, khi không vào mùa giao phối, thường là cuối mùa mưa, giữa mùa đông, linh dương đực sẽ rụng lông. Từ màu đen chuyển thành vàng nâu, chỉ giữ lại lông sẫm màu trên mặt và chân. Đến đầu tháng bốn năm sau, lông Blackbuck đực quay về màu đen pha chút nâu, khi thời tiết nóng lên.

Blackbuck
Blackbuck

7


Lee Jue

Linh dương Thomson

Linh dương Thomson sống ở châu Phi và là loài linh dương phổ biến nhất ở đông Phi, Kenya, Tanzania và Nam Sudan. Ngoài khả năng chạy ở tốc độ trung bình 80 km/h, loài linh dương này cũng rất có thể sử dụng những bước nhảy cao để trốn thoát khỏi kẻ thù. Linh dương Thomson có khả năng chạy vượt cả kẻ thù của chúng là những con báo cheetah và quay đầu chạy ngược lại rất nhanh gọn.

Linh dương Thomson cao từ 55 đến 82 cm, chiều dài cơ thể đạt từ 80 đến 120 cm và nặng khoảng 15 đến 25 kg (với con cái), 20 đến 35 kg (với con đực). Chúng có bộ lông màu nâu nhạt, phần bụng trắng với hai sọc đen nổi trội dọc hai bên sườn. Sừng dài và hơi cong ở cuối. Phần mông dưới đuôi có white color, đây là đặc trưng nhận dạng của linh dương Thomson so với loài linh dương Grant. Mặc dù một số cá thể của loài Grant cũng có thể có sọc đen dọc hai bên sườn nhưng phần white color sau mông của chúng luôn nối dài qua phần đuôi.

Linh dương Thomson
Linh dương Thomson

8


Lee Jue

Thỏ nâu rừng

Sự khác lạ của loài thỏ này với những con thỏ khác là đôi tai dài có đốm đen và đôi chân sau dài hơn được chấp nhận chúng nhanh gọn đạt tốc độ cao khi chạy. Thỏ nâu sống chủ yếu ở Anh, phía tây châu Âu, Canada, Nam và Trung Mỹ. những hoạt động nông nghiệp đã khiến số lượng loài thỏ này giảm dần từ năm 1960. Khi bị kẻ thù săn đuổi, một con thỏ nâu rất có thể chạy với tốc độ trung bình 75 km/h và đạt tối đa 77 km/h, thậm chí chúng cũng rất có thể quay ngược lại mà không cần giảm tốc độ và nhảy lên cao khoảng từ 5 – 7 m.

Thỏ nâu rừng còn được gọi là Thỏ nâu, Thỏ rừng phương Đông và Thỏ đồng cỏ phương Đông, là một loài thỏ bản địa miền bắc, trung, và tây Âu và Tây Á. Nó là một loài động vật có vú thích nghi với khí hậu ôn đới, xứ mở. Nó có liên quan đến loài thỏ trông bề ngoài giống như cùng họ nhưng khác chi. Nó sinh sản trên mặt đất thay cho sinh trong một chiếc hang và dựa vào tốc độ chạy để thoát khỏi kẻ thù. Bình thường nó là một loài nhút nhát, thỏ rừng thay đổi hành vi của chúng vào mùa xuân, ban ngày rất có thể nhìn thấy chúng rượt đuổi nhau quanh đồng cỏ. Trong thời kỳ điên cuồng vào mùa xuân, chúng rất có thể “đấm bốc”, dùng bàn chân tiến công thỏ khác.

Thỏ nâu rừng
Thỏ nâu rừng

9


Lee Jue

Greyhound

Greyhound là một giống chó săn chủ yếu được nuôi để trình diễn và đua, và gần đây giống này cũng trở thành loài thú nuôi được nuôi phổ biến ở những gia đình. Nó là một giống chó hiền lành và thông minh, một sự phối hợp của chân dài và mạnh mẽ, ngực nở, xương sống linh hoạt và thân hình mảnh mai được chấp nhận nó đạt tốc độ đua trung bình vượt quá 18 mét mỗi giây hay 63 km/h. Chó Greyhound rất có thể đạt tốc độ 74 km/h trong 6 bước chạy và duy trì tốc độ này trong 11 km.

Tại tốc độ tăng tốc tối đa, greyhound đạt đến tốc độ chạy 80 km mỗi giờ trong vòng 30 mét, sáu bước tiến từ những hộp, chạy với tốc độ gần 20 mét mỗi giây cho 250 m trước tiên của một cuộc đua. Loài động vật khác chỉ rất có thể tăng tốc nhanh hơn trên một khoảng cách ngắn là con báo, rất có thể đạt tốc độ 109 km mỗi giờ.

Greyhound
Greyhound

10


Lee Jue

Ngựa

Ngựa là một loài động vật có vú trong họ Equidae, bộ Perissodactyla (bộ móng guốc). Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758 và là một trong số 8 phân loài còn tồn tại cho tới ngày nay của họ Equidae. Ngựa đã trải qua quy trình tiến hóa từ 45 đến 55 triệu năm để từ một dạng sinh vật nhỏ với chân nhiều ngón trở thành dạng động vật lớn với chân một ngón như ngày nay.,Ngựa cái mang thai nối dài khoảng 335 – 340 ngày. Ngựa thường sinh một, ngựa con có khả năng đứng và chạy một thời gian ngắn sau sinh. Ngựa bốn tuổi được coi là ngựa trưởng thành, mặc dù chúng tiếp tục phát triển bình thường cho tới khi sáu tuổi, thời gian hoàn thành sự phát triển của ngựa cũng tùy thuộc vào kích cỡ của ngựa, giống, giới tính và chất lượng chăm sóc.

Ngựa là một trong những loài động vật nhanh nhất có thể trái đất có khả năng chạy vượt chó và hươu nai, có khoảng 350 giống ngựa trên trái đất và toàn bộ chúng đều có khả năng chạy nhanh như những vận động viên điền kinh trong trái đất động vật. Loài ngựa còn được biết đến với độ bền, sức mạnh dẻo dai và khả năng phối hợp kết hợp hợp tác ăn ý. Tùy theo từng giống ngựa, tốc độ của chúng rất có thể dao động từ 56 – 70 km/h, tốc độ tối đa đạt 88 km/h khi chạy hết sức. Quả thật đây là một tốc độ đáng ngạc nhiên phải không nào?

Ngựa
Ngựa

Từ khóa: Top 10 loài động vật nhanh nhất có thể trái đất, Top 10 loài động vật nhanh nhất có thể trái đất, Top 10 loài động vật nhanh nhất có thể trái đất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *