Văn mẫu lớp 9: Số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc thuộc bài viết số 7 lớp 9 đề 2, gồm dàn ý chi tiết cùng 12 bài văn mẫu, giúp học viên lớp 9 ôn tập thật tốt môn Ngữ Văn lớp 9.

Lão Hạc với số phận xấu số, nghèo khổ nhưng vẫn sáng lên vẻ đẹp chất phác, hiền lành, nhân hậu, giàu lòng tự trọng. Vậy mời những em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Download.vn:

Số phận và tính cách của nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc

  • Dàn ý số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc
  • Bài văn mẫu Số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 1
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 2
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 3
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 4
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 5
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 6
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 7
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 8
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 9
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 10
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 11
    • Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 12

Dàn ý số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc

I. Mở bài:

  • Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… Nam Cao là một chiếc tên không thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo.
  • những sáng tác của ông vừa rất mực chân thực, vừa có một ý vị triết lý mang ý nghĩa sâu sắc nhân bản sâu sắc.
  • Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những tác phẩm tiêu biểu như thế!
  • Nhân vật Lão Hạc đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một người nông dân hiền lành, chất phác, giàu lòng nhân ái, tự trọng đáng kính.

II. Thân bài:

1. Cuộc đời – cảnh ngộ của Lão Hạc: Người nông dân nghèo khó, gặp nhiều xấu số:

  • Vợ mất sớm, nhà nghèo, con trai phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su thiên nhiên.
  • Sống cô đơn trong tuổi già, đối diện với nhiều rủi ro: ốm nặng, yếu, không tồn tại việc, hoa màu bị bão phá sạch.
  • Có con chó vàng làm bầu bạn nhưng phải bán đi vì cảnh nghèo.
  • Luôn canh cánh thương con, vì vẫn chưa lo được cho con trọn vẹn.
  • Cùng đường, phải tìm tới cái chết thương tâm.

2. Phẩm chất, nhân cách của Lão Hạc:

a. Giàu lòng nhân ái, có tấm lòng vị tha, nhân hậu

b. Là người cha cực kì thương con, lo lắng cho con

c. Giàu lòng tự trọng.

3. Cái chết của Lão Hạc: Là một biến cố điển hình để nhân vật bộc lộ tính cách điển hình:

  • Chết để tự giải thoát kiếp sống mòn.
  • Chết vì quá thương con, muốn giữ trọn vốn liếng cho con, giữ tiếng cho con.
  • Chết để tránh bị đẩy vào con đường tha hóa, biến chất.
  • Đau đớn tự trừng phạt vì đã bán con Vàng (đã đánh lừa nó)
  • Cái chết như một sự hi sinh tàn khốc vì tương lai, nó chứng tỏ sự bế tắc của hiện tại.
  • Minh chứng cho tấm lòng lương thiện.
  • Minh chứng cho nỗi xấu số và phẩm giá của người nông dân Việt Nam trước cách mạng.

4. Suy nghĩ, đánh giá về nhân vật:

  • Thương xót một con người xấu số.
  • Trân trọng lòng tự trọng đáng quý.
  • Yêu quý một con người giàu lòng nhân ái, yêu thương con.

III. Kết bài:

  • Nhân vật Lão Hạc là một thành công nghệ thuật của Nam Cao trong việc xây dựng hình tượng người nông dân trước cách mạng tháng Tám: nghèo khổ, giàu lòng thương con, chất phác, đôn hậu, giàu lòng tự trọng…
  • Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật.
  • Cảm xúc của cá nhân (trân trọng, yêu quý nhân vật. Nhân vật đã để lại suy nghĩ gì cho bản thân?)

Bài văn mẫu Số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 1

Trong văn học hiện thực những năm 1930-1945, Nam Cao là một chiếc tên tiêu biểu mà chúng ta không thể không nhắc đến. những tác phẩm của ông mang đến cho người đọc cảm giác chân thực cùng ý vị triết lí mang ý nghĩa sâu sắc nhân bản sâu sắc. “Lão Hạc” là một trong những tác phẩm thành công của ông. Đến với tác phẩm để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc là hình ảnh lão Hạc- một người nông dân hiền lành,chất phác, giàu lòng nhân ái và lòng tự trọng nhưng lại có số phận cực kì xấu số.

Lão Hạc- một con người nghèo khổ, xấu số. Vợ lão mất sớm, lão ở vậy gà trống nuôi con. Vất vả nuôi con khôn lớn, đến tuổi lấy vợ,lão lại không lo được đủ tiền cưới cho con. Không lấy được vợ, con lão buồn phiền mà bỏ đi đồn điền cao su thiên nhiên, đã 5-6 năm biền biệt vẫn chưa về. Tuổi già cô quạnh một mình, xấu số càng đến với lão khi lão ốm một trận thập tử nhất sinh, vườn tược, hoa màu bị phá sạch sau trận bão. Lão mất vé sợi, ốm xong không đủ sức làm việc nặng, những việc nhẹ nhàng thì bị đàn bà trong làng tranh hết. Lão Hạc ăn uống đói deo đói dắt, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Cậu Vàng- con chó mà người con trai trước khi đi đã để lại cho lão, là thú vui duy nhất trong quãng đời cuối của lão. Thế nhưng vì cậu Vàng ăn nhiều mà lão không nuôi nổi, phải bán chó. Sau khi bán cậu Vàng, lão Hạc đau khổ, cảm thấy mình tệ bạc, lão càng sống kham khổ. Lão chỉ ăn khoai, củ chuối, củ ráy,… sau cùng để bảo toàn số tiền cho con, lão kết thúc cuộc đời mình một cách đau khổ bằng bả chó.

Thế nhưng trước số phận khổ đau đó, lão Hạc vẫn giữ được những phẩm chất đẹp đẽ của người nông dân. Lão là một con người hiền lành, chất phác, nhân hậu, là người cha có trách nhiệm. Một tay nuôi lớn con vất vả, khi con không lấy được vợ, lão luôn dằn vặt vì không lo được cho con. Đến khi con trai bỏ đi, lão luôn mong nhớ và khóc rất nhiều. “ Hình của nó người ta giữ, ảnh của nó người ta chụp, nó là con người ta rồi chứ đâu phải con tôi”. Trong quãng thời gian con đi, ba sào vườn mà vợ để lại cho con, lão không động vào đồng hoa màu nào, toàn bộ để để dành lại để đưa cho con khi trở về. Cho dù phải bán chó hay chết, lão cũng quyết không dùng nó. Con đi để lại con chó. toàn bộ tình yêu, nỗi nhớ con trai đều được lão gửi vào con chó. Lão thân thiện gọi nó là “cậu Vàng”, đối xử với nó như một con người. Lão cho nó ăn cơm trong bát sứ như nhà giàu, lão bắt rận, tắm rửa cho nó, trò chuyện với nó, lão ăn gì cũng cho nó ăn cùng. Cậu Vàng đúng là chỗ dựa tinh thần vững chắc, niềm an ủi, động viên lão trong những ngày tháng cô đơn cuối đời. Thế nhưng lão vẫn phải bán nó. Tiếng khóc nức nở của lão sau khi bán con chó đã thể hiện sự nhân hậu của lão. Lão cảm thấy mình thật ích kỷ, tệ bạc, già rồi mà còn đánh lừa một con chó.

Lão Hạc còn là một con người trong trắng, giàu lòng tự trọng. Cho dù lão sống túng thiếu đến đâu, lão cũng không muốn lấy của ai cái gì. Sau khi bán chó, lão chỉ ăn khoai, củ chuối, củ ráy, sung luộc, vài bữa ốc cho qua ngày, nhưng khi ông giáo mời ăn khoai, uống trà thì lão chỉ khéo léo từ chối bảo để khi khác. Khi mà ông giáo ngấm ngầm giúp đỡ, lão từ chối gần như hách dịch. Sau khi bán chó, lão Hạc gửi ông giáo 3 sào vườn và 30 đồng bạc để không làm phiền tới láng giềng khi ông chết. Và rồi cuối tác phẩm, Nam Cao làm người đọc bất ngờ khi nghe nhân vật Binh Tư- một kẻ chuyên đánh bả chó kể rằng lão Hạc vừa xin hắn một ít bả để bẫy con chó hay vào vườn nhà lão. Để rồi lại tới một bất ngờ khác khi chứng kiến cái chết thảm thương của lão. Từ đó càng thấy lấy được lòng tự trọng, trong trắng của lão Hạc. Đó là một phẩm chất đáng quý mà khó ai giữ được trong hoàn cảnh của lão.

Nam Cao đã xây dựng thành công nhân vật lão Hạc với cùng 1 số phận xấu số nhưng lại nổi trội trên đó phẩm chất đẹp đẽ của lão- hiền lành, chất phác, yêu thương con, nhân hậu, trong trắng, giàu lòng tự trọng. Từ đó thể hiện được tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nam Cao.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 2

Nhắc đến Nam Cao- một cây bút hiện thực bậc thầy của văn học Việt Nam, chúng ta nghĩ ngay tới “Chí Phèo” nhưng nếu nói: Nam Cao – nhà văn của tình thương, ta nghĩ ngay tới “Lão Hạc”. Số phận cuộc đời và vẻ đẹp, tính cách của Lão Hạc đúng là thông điệp về tình thương của tác giả.

“Lão Hạc” là một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người nông dân trong xã hội phong kiến cũ, đăng báo lần đầu năm mới 1943. Khi thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành xong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, đem lại nhiều thay đổi, biến động cho xã hội Việt Nam. Người nông dân trong xã hội phong kiến đã chẳng dễ sống nay còn phải chịu cảnh “Một cổ hai tròng”. Nhân vật chính mẩu chuyện là người nông dân – người cha góa vợ, chỉ còn đứa con trai và chú chó Vàng được đặt trong cái nhìn của ông giáo. Vì phẫn chí không tồn tại tiền lấy vợ mà con lão bỏ đi đồn điền cao su thiên nhiên, để lại mình lão với con chó. Lão coi Vàng như một người con trong nhà mà chăm sóc nhưng mất mùa, rồi lại đói kém, nhịn ăn không được lão quyết định bán Cậu Vàng và chọn cho mình cái chết vì không muốn phạm vào tiền để cho con. mẩu chuyện là cái nhìn chân thực, đau đớn nhất về số phận bi thảm của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời làm sáng ngời vẻ đẹp của tình yêu thương, lòng tự trọng và tình người.

Trước hết, Lão Hạc hiện lên là nạn nhân của cái nghèo, cái đói của xã hội cũ. Toàn bộ tài sản của người nông dân ấy chỉ có một mảnh vườn và con chó. Vì nghèo mà lão không tồn tại đủ tiền để lo đám cưới cho con, để đứa con phải phẫn chí đi làm xa. Cái nghèo khiến lão không làm tròn trách nhiệm của một người cha cần phải làm. Cái nghèo bắt lão phải sống cảnh cô đơn, hiu quạnh trong tuổi xế chiều. Rồi cái đói ập tới, nó khiến lão phải sống khổ sở. Mảnh vườn thì còm cõi, xơ xác chỉ đủ cho lão bòn mót. Lão phải làm thuê, làm mướn để đổi lấy miếng ăn nhưng chẳng thể so với người trẻ. Rồi lại một trận ốm làm “lão yếu đi ghê lắm. tiền lâu nay dành dụm đều hết sạch”. Cái nghèo, cái đói còn bủa vây khiến có những lúc lão phải thốt lên rằng: “Cái kiếp chỉ nhỉnh hơn kiếp một con chó”.

Lão Hạc còn là nạn nhân của những khổ đau. Vợ mất sớm, sợi dây tình cảm với người con trai cũng chẳng giữ được. Không thể làm tròn chức trách một người cha, để rồi mỗi lần nhắc về con là mỗi lần nước mắt lại rơi: “Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi nữa?”. Chỉ còn mỗi con chó Vàng làm bạn, làm người thân. Nhưng còn gì đau đớn hơn khi phải bán đi chính thứ mình đã coi là một phần máu thịt, là con của tôi. Đến cuối hành trình, vẫn là cái chết bi thảm và dữ dội: “Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một chiếc, nẩy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết.” Lão đang ở đỉnh cao của sự hành xác. Làm sao quên được cái chết đau đớn ấy, khác nào cái chết của một con vật! Hiện tại thì tối tăm, tương lai thì mờ mịt và bế tắc. Liệu còn khì khổ đau hơn những điều người nông dân xưa phải chịu?

Nhưng Nam Cao không phải chỉ là nhà hiện thực lạnh lùng, ông còn là sứ giả của tình thương. Ông đã dùng tấm lòng nhân đạo của tôi để thấy được vẻ đẹp trong tính cách của Lão Hạc. Trước hết, đó là người cha giàu tình yêu thương con. Khi không đủ tiền để cưới vợ cho con: “lão thương con lắm nhưng biết làm sao được”. Câu nói đầy bất lực của một tấm lòng chan chứa yêu thương. Nhìn con trai phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su thiên nhiên mà lão “chỉ biết khóc chứ còn biết làm thế nào nữa”. Tiếng khóc bất lực của người cha khi để con tuột khỏi tay mình. Ở nhà, lão tự tước đi quyền sở hữu mảnh đất. Bởi “vườn của mẹ nó tậu thì nó hưởng” và “tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ tổ chết nó”. Cũng vì thế mà lão đã bán đi đứa con tinh thần của tôi- cậu Vàng. Để rồi, cái chết cuối truyện cũng chỉ là để bảo toàn hạnh phúc cho đứa con. Không được học hành, cũng chẳng được dạy chữ nghĩa nhưng chính những điều lão làm là minh chứng cảm động nhất về tình phụ tử nguyên sơ, mộc mạc mà thiêng liêng.

Lão Hạc còn là một người nông dân nghèo giàu lòng tự trọng. Đó là khi dẫu bị cái đói, cái nghèo làm khổ sở, phải ăn những món tự chế nhưng vẫn chưa một lần ông nhận sự giúp đỡ của ai. Đó là khi còn tiền nhưng lão vẫn gửi tiền ông giáo để có tiền làm ma, để không phải làm phiền hàng xóm. Cái chết của lão cũng là minh chứng cho câu nói: “đói cho sạch, rách nát cho thơm”. Lòng tự trọng ấy, không cần thiết phải dữ dội như sự phản kháng mạnh mẽ của chị dậu nhưng lại là lòng tự trọng phải đánh đổi dữ dội nhất. Khi đứng trước miếng ăn, có những con người đã gục ngã: Binh Tư, bà cái Tí hay trượt dài trên con đường tha hóa: Chí Phèo thì Lão Hạc vẫn rất có thể giữ vững mình trên bờ vực, trước ranh giới của sự tha hóa. Đó đúng là vẻ đẹp, phẩm giá của con người Việt Nam, người nông dân Việt Nam.

Đặc biệt, Nam Cao đã khám phá ở Lão Hạc một phẩm cách rất đặc biệt, tính người và tính đồng loại. Với người khác, chó chỉ là một vật nuôi, vật trao đổi hay cùng lắm là một người bạn mua vui. Nhưng với lão, đó không đơn giản như vậy. Lão gọi nó là cậu Vàng như “bà mẹ hiếm hoi gọi đứa con cầu từ”, rồi lão bắt rận, mắng yêu nó, tắm cho nó. Và khi bán chó, lão chìm xuống đáy của thảm kịch. Lòng lão đau nhói, những giọt nước mắt như rỉ ra từ đó: “những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra” rồi lão hu hu khóc như con nít. Con người ta tự khi nào phân định mình tách biệt với tự nhiên, là bậc cao hơn với động vật? Chỉ có lão Hạc coi cậu Vàng như là một sinh linh, một mạng sống. Những giọt nước mắt đưa con người về thời nguyên sơ, thuần khiết nhất, trở về với bản tính của tôi, hòa nhập cùng thiên nhiên. Bởi thế, Nam Cao mới coi giọt nước mắt là “giọt châu của loài người”, thể hiện tính người.

Như vậy, bằng tài năng của một cây bút văn học trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, tạo dựng chi tiết và tình huống bất ngờ, Nam Cao đã vẽ lên bức tranh số phận và vẻ đẹp của người nông dân trong xã hội đen tối qua hình ảnh cuộc đời lão Hạc.Bằng tác phẩm của tôi, tác giả không chỉ có tố cáo hiện thực mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo của tôi. Với ông, văn học đúng là một loại hình của yêu thương mà mỗi tác giả phải là sứ giả của tình thương, mỗi tác phẩm là thông điệp của tình thương.

Bởi những giá trị và tầm tư tưởng ấy, “Lão Hạc” vẫn chưa và không khi nào rời khỏi một góc yêu thương của người đọc mọi thế hệ.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 3

Cùng với Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố, Nam Cao là tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán, luôn hướng về người nông dân, phản ánh hiện thực đời sống của người nông dân trước Cách mạng. Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm đặc sắc của Nam Cao, nó như một điểm son trong sự nghiệp sáng tác của ông.

Nam Cao luôn trăn trở về số phận của người nông dân lương thiện trong xã hội phong kiến. Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên là chân dung của một lão nông Việt Nam đáng thương và đáng kính. Số phận của Lão Hạc thật đáng thương bởi cái nghèo nàn, túng thiếu. Vợ mất sớm, lão dồn tình thương nuôi con khôn lớn. Khi đứa con trai đến tuổi lấy vợ, lão tính chuyện cưới vợ cho con, nhưng vì nghèo túng mà người ta lại thách cưới nặng quá nên con trai không cưới được vợ. vô vọng, đứa con bỏ nhà ra đi làm phu đồn điền ở Nam Kì. Khi con đi rồi, lão cô đơn, sống trong hiu quạnh. Bấy giờ, chỉ có con Vàng là nguồn vui của lão. Cậu Vàng được lão chăm sóc chu đáo. Lão xem cậu Vàng như một đứa trẻ cần sự chăm sóc, yêu thương. Lão nhân hậu trong cả với con chó của tôi. Tội nghiệp cho số phận ông lão. Cuộc đời túng quẫn, nghèo khó cứ đeo đẳng bên ông. Vợ chết để lại mảnh vườn ba sào, nhưng lão nhất quyết không bán dù cho nghèo khó. Lão tự bảo: Cái vườn là của con ta … của mẹ nó tậu thì nó được hưởng. Lão nghĩ vậy và làm đúng như vậy. toàn bộ hoa lợi thu được lão bán để dành dụm riêng chờ ngày con về cưới vợ. Cảm thương cho ông lão đã vò võ trông con về làng, lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về cũng có thể có được trăm đồng bạc. Nhưng hy vọng chẳng có, vô vọng lại về, lão bị một trận ốm đúng hai tháng mười tám ngày, bao nhiêu vốn liếng dành dụm được đều sạch nhẵn. Sau trận ốm, người lão yếu quá, không làm được việc nặng, việc nhẹ thì người ta tranh hết, lão phải cầm hơi qua ngày bằng củ chuối, củ ráy, con ốc, con trai…

Vì không tìm tìm kiếm được tiền để sống, lại sợ tiêu lạm vào tiền của con nên lão quyết định tìm tới cái chết. Lão chết để con lão khỏi trắng tay. Thật cảm động biết bao về tấm lòng yêu thương bao la và đức hi sinh cao quý của một người cha khốn khổ! Số phận của lão thật bi thương. Nghèo đến nỗi phải bán đi con Vàng mà lão yêu thương, gắn bó. Kể lại việc bán chó với ông giáo, lão đau đớn xót xa: mặt lão đột nhiên rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít, lão hu hu khóc… lão khóc vì thương chó, và cảm thấy mình là kẻ lừa dối khi bán cậu Vàng. Số phận của lão thật bi thương nhưng lão không đánh mất phẩm giá của tôi. Đến bước đường cùng lão luôn nghĩ đến con mà chẳng nghĩ đến mình. Lão đủ dũng cảm để nghĩ đến chuyện kết thúc cuộc đời để không làm phiền đến ai. Lão từ chối mọi sự thương hại của người khác, cho dù đó là sự cưu mang chân tình. trong cả ông giáo, người hàng xóm gần gũi nhất và tin tưởng nhất, ông cũng từ chối sự giúp đỡ. Lão Hạc còn nghĩ đến cái chết không làm phiền lòng người khác. Lão nhịn ăn, tích góp được hai lăm đồng cộng với năm đồng bán chó, lão gửi ông giáo nhờ làm đám ma cho lão. Trước khi chết, lão còn nghĩ đến hạnh phúc của con. Lão viết văn tự nhượng mảnh vườn cho ông giáo để không ai còn mơ tưởng, dòm ngó đến, khi nào con lão về thì sẽ nhận vườn làm. Tuy lão nghèo khó, lại bị xã hội bỏ rơi nhưng lão vẫn giàu đức hi sinh, giàu tình thương và giữ vững phẩm chất cao đẹp của tôi.

Hình ảnh Lão Hạc chết thật thê thảm. Lão mượn miếng bả chó để tự kết liễu đời mình. Tội nghiệp cho lão quá! Lão vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra… Cái chết đau đớn của lão đã làm sáng tỏ thêm phẩm chất cao đẹp của người nông dân hướng thiện. Tuy sống trong cái xã hội đầy bóng tối, nhưng tâm trí lão vẫn sáng ngời, tính cách của lão thật cao quí. Cả đời lão nghèo khổ nhưng không làm mất đi tấm lòng đôn hậu, trong sáng của tôi.

Với bút pháp mô tả tâm lí nhân vật, xen kẽ tự sự, Nam Cao đã gợi cho ta niềm cảm thương vô hạn đối với những người nông dân nghèo khổ. Ngòi viết của Nam Cao là tiếng nói cảnh tỉnh về một xã hội thiếu công minh, không quan tâm đến người nghèo, chà đạp lên số phận của con người lương thiện.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 4

”Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. mẩu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả triệu tập vào tâm trạng nhân vật chính – Lão Hạc – xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện.

Con chó – cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, san sẻ đồ ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với cùng 1 con người. Bởi thế, cái ý định ”có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không tiến hành được. Nhưng rồi, sau cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc.

Cậu Vàng bị bán đi! Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi cái đói bám. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi gạo thì cứ kém mãi đi mà một ngày lo ba hào gạo thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu.

Khoảnh khắc lão cố làm ra vui vẻ cũng không giấu được khuôn mặt cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước. Nỗi đau đớn cố kìm nén của Lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão. Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của tôi. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo thành đột biến trên khuôn mặt: Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…. Những suy nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện rất có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo: ”Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. thực chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này. Nhưng không chỉ có có vậy, Lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: ”Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”. Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão Hình như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối.

Kết cục số phận của Lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm tới cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất đối với Lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc thảm kịch cũng là thật sự chấm hết những dằn vặt riêng tư của Lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 5

Viết về số phận của người nông dân trước cách mạng tháng 8, Lão Hạc là một truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao. Truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương trước cuộc đời xấu số và cái chết đau đớn của một lão nông dân nghèo khổ. Nhân vật Lão Hạc đã để lại cho chúng ta bao ám ảnh về số phận của con người, đặc biệt là người nông dân trong xã hội cũ.

Lão Hạc cũng như hàng triệu người nông dân xưa đều chịu chung hoàn cảnh xấu số, nhưng Trong số đó nổi trội lên một phẩm chất đẹp đẽ, đáng quý, đáng trân trọng. Lão Hạc – một con người nghèo khổ, xấu số. Ba sào vườn, một túp lều tranh vách nát, một con chó vàng là tài sản, vốn liếng duy nhất của lão. Vợ Lão Hạc mất sớm, sống trong cảnh gà trống nuôi con. Con trai lão không đủ tiền cưới vợ nên buồn phiền, phẫn chí đi làm phu đồn điền cao su thiên nhiên, đã 5, 6 năm biền biệt vẫn chưa về. Vậy nên dân ta thường có câu “cao su thiên nhiên đi dễ, khó về” là vậy. Tuổi già cô quạnh, xấu số ngày càng ông xã chất. Lão Hạc bị ốm một trận thập tử nhất sinh mà không một người thân bên cạnh đỡ đần, chăm sóc một bát cháo một chén thuốc khi ốm đau bệnh tật. Hoàn cảnh của Lão Hạc thật đáng thương. Sau trận bão, vườn tược, hoa màu bị phá sạch. Làng bị thất nghiệp nhiều, Trong số đó có Lão Hạc vì lão trở thành yếu hẳn sau khi ốm dậy, không ai còn muốn thuê lão làm nữa. Lão với cậu Vàng – con chó mà người con trai trước khi đi đã để lại cho lão, ăn uống mà vẫn đói deo, đói dắt, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. “Nhưng đời người ta không chỉ có đau khổ một lần”. Ông giáo đã nói với Lão Hạc như vậy trước ý định bán chó của lão. Vì cậu vàng ăn nhiều mà Lão Hạc không đủ khả năng nuôi dưỡng nó nữa. Bán cậu vàng, lão như bị đẩy sâu xuống bờ vực thẳm, cảm thấy mình ích kỉ, tệ bạc, già rồi mà còn đánh lừa một con chó. Đói khổ, túng thiếu, cô đơn thêm nặng nề. Lão Hạc chỉ ăn khoai, củ chuối, củ ráy, sung luộc, vài bữa trai ốc cho qua ngày. Để rồi sau cùng lão phải quyên sinh bằng bả chó, một chiếc chết đau đớn, thê thảm: đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc tru tréo, bọt mép sùi ra, vật vã hai giờ đồng hồ mới chết. một chiếc chết thật dữ dội. Số phận một con người, một kiếp người như Lão Hạc thật đáng thương. Ôi! Bao niềm xót xa, thương cảm đối với những con người nghèo khổ, bế tắc phải tìm tới cái chết như Chí Phèo tự tử bằng mũi dao, Lang Rận thắt cổ tự tử và Lão Hạc đã kết thúc cuộc đời mình bằng bả chó. “Nếu kiếp người đau khổ nốt thì ta nên làm gì cho thật sướng”. Câu nói đó đã thể hiện cái đau khổ tột độ của Lão Hạc.

Nhưng Lão Hạc có bao phẩm chất đẹp đẽ, là một con người hiền lành, chất phác, nhân hậu, là một người cha có trách nhiệm. Lão đau đớn khi đứa con trai độc nhất đi phu đồn điền cao su thiên nhiên và lão khóc “Hình của nó người ta giữ, ảnh của nó người ta chụp, nó là con người ta rồi chứ đâu phải con tôi”. Ba sào vườn là của vợ lão đã thắt lưng buộc bụng để lại trước khi mất. Lão thà chết chứ không chịu bán đi một sào, nhất quyết để lại cho đứa con, một sự hi sinh thầm lặng to lớn, toàn bộ vì con, mãi dành riêng cho con những gì tốt nhất của cuộc đời. Lòng nhân hậu của lão được thể hiện sâu sắc đối với con chó vàng. Chính nó là chỗ dựa tinh thần, là niềm an ủi, nguồn động viên, khích lệ lão trong những tháng ngày cô đơn, vô vọng nhất. Lão coi nó như đứa con, đứa cháu, như một thành viên trong gia đình. Lão cho nó ăn cơm trong bát sứ như nhà giàu, lão bắt rận, tắm rửa cho nó. Lão trò chuyện với nó “Cậu vàng của ông ngoan lắm, ông để ông nuôi…”, lão ăn gì cũng cho cậu vàng ăn. Và cậu vàng đã góp phần toả sáng tâm hồn và làm sáng lên bản tính đẹp đẽ của lão, nó là một phần của cuộc đời lão. Vậy nên sau khi bán chó, lão đã tự tử cũng chính bằng bả chó như để tự trừng phạt mình.

Và Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ nhưng trong trắng, giàu lòng tự trọng. Dù có đói khổ, túng thiếu, dù phải ăn củ chuối hay sung luộc nhưng khi ông giáo mời ăn khoai, uống trà thì lão cười hiền hậu bảo để khi khác. Dù ông giáo có ngấm ngầm giúp đỡ nhưng lão đã từ chối gần như là hách dịch. Sau khi bán chó, lão đau khổ, dằn vặt và vẫn luôn không thay đổi mảnh vườn cho con trai. Lão gửi ông giáo 3 sào vườn và 30 đồng bạc phòng khi chết để không làm phiền tới láng giềng. Lão luôn sống theo quy tắc “Đói cho sạch, rách nát cho thơm”. Nhà văn Nam Cao đã khéo léo đưa Binh Tư – một kẻ chuyên đánh bả chó ở cuối truyện để làm nổi trội lòng tự trọng, trong trắng của lão nông dân nghèo khổ. Ông giáo đã nói “Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không hiểu họ thì ta cho rằng họ gàn dở, ngu ngốc và bần tiện”.

Tóm lại cuộc đời Lão Hạc đầy nước mắt, đau thương. Sống thì cô đơn, xấu số, nghèo khổ, chết thì quằn quại đau đớn. Lão Hạc cũng đại diện cho số phận của bao người nông dân khác. Trong khổ đau, gian truân, nổi trội lên một phẩm chất hiền lành, nhân hậu, chất phác và giàu lòng tự trọng. Nam Cao đã thể hiện niềm cảm thông sâu sắc đối với số phận xấu số của những người nông dân trước cách mạng tháng 8.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 6

Hình tượng người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 được khai thác một cách sâu sắc và triệt để trong văn học. Qua những trang văn của những tác giả, những con người với số phận xấu số nhưng ngời sáng những phẩm chất cao quý được thể hiện một cách rõ nét. Nếu Ngô Tất Tố thành công với việc khắc họa hình tượng nhân vật chị Dậu, một người phụ nữ yêu ông xã thương con, giàu đức hi sinh nhưng cũng có thể có những phút giây vùng lên để chống lại cái xấu, cái ác trong “Tắt đèn” thì Nguyễn Công Hoan lại xây dựng hình ảnh một anh Pha dám vùng lên đánh trả lại bọn cường hào ác bá trong “Bước đường cùng”. Và Nam Cao với hình tượng nhân vật lão Hạc trong tác phẩm cùng tên đã khắc họa thành công hình tượng người nông dân với số phận nghèo khổ, bần hàn nhưng lương thiện, chất phác và rất giàu lòng tự trọng.

Lão Hạc có số phận xấu số cực kì.Sự khổ đau, xấu số của lão thể hiện ngay từ hình dáng đến cuộc sống của lão. Một ông lão già nua, xấu số vì phải chịu cảnh cô đơn, bệnh tật lại nghèo khổ. Hoàn cảnh của lão Hạc cực kì cực khổ.Vợ lão chết sớm, lão phải lâm vào tình cảnh gà trống nuôi con. Vậy nhưng con trai lão cũng bỏ lão mà đi làm tại đồn điền cao su thiên nhiên. Lão Hạc cô đơn, buồn tủi với tuổi tác đã già chỉ biết bầu bạn với con chó Vàng. Chính hoàn cảnh khốn cùng ấy với hoàn cảnh neo đơn của lão đã khiến người đọc cực kì xót xa, thương cảm. Lão coi Vàng như một đứa con, đứa cháu, một người ruột thịt của tôi. Lão san sẻ từng đồ ăn, thức uống, trò chuyện, tâm sự với nó như một con người. Lão Hạc vì bất đắc dĩ phải đành lòng bán đi cậu Vàng, cái tên thân thương mà lão dành riêng cho con chó của tôi. Lão vì thương con trai, không muốn tiêu phạm vào số tiền dành dụm cho con. Lão đã tính kĩ mỗi ngày cậu ấy ăn thế cũng mất hai hào. Mà cứ thế này thì lão không lấy tiền đâu mà nuôi được.Đối với lão, giờ đây, tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của con trai. Cảnh tượng lão Hạc chia tay với con chó Vàng cực kì xúc động. Đọc đoạn văn ấy, người đọc rưng rưng xúc động, đồng cảm sâu sắc với lão Hạc. Nam Cao cũng đã cực kì thành công khi mô tả cảnh tượng ấy chỉ bằng những nét chấm phá trên khuôn mặt đau khổ của lão. Sau khi bán con chó đi, lão Hạc sang nhà ông giáo để san sẻ. Dù lão cố làm ra vẻ bình thường nhưng không thể nào giấu đi được khuôn mặt biến dạng của con người già nua đầy đau khổ đó. Nam Cao đã cực kì tinh ý khi mô tả lại khuôn mặt ấy: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”.Bán đi cậu Vàng, lão đau như cắt từng khúc ruột.Nhưng bởi hoàn cảnh sống, bởi tình thương yêu con vô bờ bến mà lão phải đưa ra quyết định ấy. Chính nỗi khổ tâm của người cha già luôn dằn vặt, đau đáu chuyện vì nghèo, vì khổ mà không cưới được vợ cho con, thêm nữa giờ đây cũng vì hoàn cảnh mà lão đối xử không đàng hoàng đối với cùng 1 con chó. Lão nhờ ông giáo giữ lại hộ mảnh vườn để mai sau người con trai lão trở về sẽ có nhà để ở, có vườn ruộng làm ăn. Lão tự lo cho hậu sự của tôi sau này, lão không muốn nhờ vả hay vay mượn bất kể ai.

Cảnh sống nghèo khốn khó về vật chất và sự suy sụp về tinh thần khiến cho lão Hạc kiệt sức.Lão rơi vào cảnh bần hàn hóa. không tìm tìm kiếm được việc làm, lại không tồn tại đủ sức khỏe, cô đơn lạc lõng, lão sống vật vờ qua ngày với con ốc, con trai, củ khoai, củ ráy, sung luộc…Cái kết của mẩu chuyện là một chiếc kết đầy đau xót đối với độc giả. Lão Hạc đã tìm tới cái chết. Sau cùng, con người khốn khổ ấy cũng tìm cho mình một lối giải thoát.Hầu hết khi nghĩ đến việc tự tử, người ta thường nghĩ đến những việc làm sai trái, tiêu cực nhưng với lão Hạc, lão không nào có tội tình gì. Lão chết với lí do muốn giữ lại tiền cho con trai mình, không muốn nhờ vả liên lụy mọi người xung quanh. Cái chết của lão cũng thật đau đớn, xót xa: “Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một chiếc, nảy lên”.Lão đã tự tử bằng thuốc chuột.cho tới cuối đời, lão nông khốn khổ ấy vẫn đau đớn và xấu số cực kì. Một con người, một số phận đầy đau thương.

Lão Hạc là một trong những nhân vật điển hình trong những sáng tác của Nam Cao. Chúng ta tự đưa ra câu hỏi: Phải chăng Nam Cao đã quá lạnh lùng với ngòi bút của chính mình? Phải chăng số phận của những nhân vật trong những tác phẩm của Nam Cao lại đều đau thương đến vậy?Thế nhưng ngẫm nghĩ lại, ta lại thấy đằng sau ngòi bút ấy là một tấm lòng chan chứa yêu thương. Càng viết, tác giả như càng muốn phơi bày thực sự của cơ chế phong kiến tàn ác, cơ chế đã đàn áp và đưa con người ta đến bước đường cùng. Vậy nhưng trong hoàn cảnh sống khắc nghiệt ấy, những nhân vật của ông luôn ngời sáng lên vẻ đẹp tinh thần. Nhắc đến đây, ta lại nhớ đến nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao. Anh Chí ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao với sự thay đổi về cả nhân hình lẫn nhân tính nhưng có một khát khao lớn là muốn “làm người”. Thế nhưng chính xã hội bất công ấy đày đọa con người ta đến bước đường cùng. Để rồi sau cùng phải tìm tới cái chết như một sự giải thoát.

Có nhiều người cho rằng cách kết thúc tác phẩm của Nam Cao thường là ngõ cụt, mang tính tiêu cực.Thế nhưng điều đó làm cho hiện thực cuộc sống được thể hiện rõ hơn khi nào hết. Lão Hạc, một cuộc đời đầy nước mắt, khổ đau, bất lực cho tới lúc mất đi nhưng luôn giữ trong mình thực chất lương thiện, hiền lành, nhân hậu. Đó cũng đúng là thông điệp mà Nam Cao muốn truyền đến độc giả về thực chất của văn chương trong những sáng tác của ông: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn vẫn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì vẫn chưa tồn tại”.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 7

những tác phẩm về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám đã lên án gay gắt xã hội thối nát thời xưa, một xã hội điêu tàn, vô lương, luôn luôn dồn ép những người dân vô tội vào cảnh bần hàn khốn khổ. Đồng thời, những mẩu chuyện cũng ngợi ca những phẩm chất đẹp đẽ, đáng quý của họ. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao là một trong những tác phẩm thành công nhất của đề tài này.

Ngay từ nhan đề của truyện đã giúp ta biết rằng nhân vật chính của mẩu chuyện là một ông cụ. Sự thực đã là như vậy, mẩu chuyện là cuộc đời của một cụ già cực kì khắc khổ. Lão khắc khổ từ hình dáng đến số phận của tôi. Đó là một ông lão già nua, xấu số vì cô đơn, bệnh tật lại luôn bị sự đói nghèo dằn vặt. Vợ chết sớm, lão phải lâm vào cảnh gà trống nuôi con một thân một mình nhưng khốn thay, con trai lão do không chịu nổi sự khổ cực bần hàn, sự lạnh lùng, đen bạc đã xin đi phu đồn điền cao su thiên nhiên.

Vậy là vợ con đã đều rời xa lão, lão chỉ còn biết bầu bạn với con chó vàng. Lão coi nó như là một đứa con, đứa cháu, một người thân của tôi để san sẻ từng miếng cơm, manh áo của tôi cho nó, ngày ngày bầu bạn, tâm sự với nó. Nhưng, cuộc sống dồn đẩy đến tận cùng, lão ốm nằm liệt giường, không làm được việc gì, phải ăn bòn vào tiền vườn vẫn để dành riêng cho con. Tiếp sau, làng bị “mất nghề vé sợi” công ăn việc làm cũng hiếm hoi hơn. Lựa chọn duy nhất giờ đây là phải bán con chó đi vì một miệng ăn cũng đã không lo đủ rồi huống chi còn nuôi thêm một con chó – “ốc còn không mang nổi mình ốc thì làm sao vác cọc cho rêu” được ! Cái chi tiết lão bán con chó đi làm người đọc như chúng ta không thể không đau lòng. Hôm bán xong con vàng, lão sang nhà ông giáo để bộc lộ. Lão cố làm ra vẻ bình thường nhưng không thể giấu được nỗi đau trong lòng : “trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước…”. Nỗi đau làm biến dạng khuôn mặt của con người già nua đầy đau khổ đó : “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”. Hình ảnh đó càng làm nổi trội lên phẩm chất đáng quý của lão Hạc, đó là tính lương thiện và lòng thương con vô bờ bến. Lão bán con chó để không dùng vào tiền vườn, tiền để dành riêng cho con về cưới vợ. Tình cha con sâu sắc của người nông dân già cả, nghèo khó khiến người đọc không khỏi cảm động và yêu mến.

Lão còn nhờ ông giáo giữ hộ mảnh vườn để mai sau người con trở về có nhà để ở, có vườn và ruộng để mà làm ăn bằng một văn tự mua bán hẳn hoi. Thậm chí để lo hậu sự mai sau cho mình lão cũng rất chu tất, chả phiền lụy, nhờ vả, vay mượn ai cả. Hình như theo lão có để lại cho con thì chỉ để tài sản chứ không để lại nợ nần. Tin tưởng trao gửi cả một “tài sản” lớn đối với lão cũng như đối với đời sống kinh tế lúc bấy giờ, mà không chút nghi ngờ, do dự phải chăng bắt nguồn từ tấm lòng đầy nhân hậu, vị tha của nhân vật. Từ đó, ta thấy được ẩn sâu trong những con người đầy nghèo khổ và buồn đau này một tấm chân tình cảm động xiết bao.

Cái kết của mẩu chuyện mới là cái đáng nói nhất trong tác phẩm Lão Hạc này. sau cùng thì lão Hạc cũng chết. Đây không phải là một chiếc chết bình thường mà là cái chết đau đớn của một con chó : “Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một chiếc, nảy lên.”. Đọc đến đây tôi thấy rất sợ, không sợ vì cảnh vật vã rồi chết, mà vì tính chất thâm độc của cơ chế thực dân phong kiến xưa kia. Tôi thường nghĩ, phải chăng Nam Cao quá lạnh lùng, vì tác phẩm nào của ông cũng toàn chết chóc, đau thương, những nhân vật đều kết thúc bằng cái chết. Sự thực ngòi bút của ông dù có thương nhân vật đến đâu cũng không thoát khỏi cái quy luật mà xã hội cũ quá ư tàn nhẫn gây ra cho những người dân vô tội. Nó chỉ cho lão Hạc có hai cách sống : Thứ nhất là lão sẽ phải tiêu lẹm vào tiền vườn của con, điều đó đời nào lão chịu. Thứ hai là lão sẽ phải làm những việc vô lương như Binh Tư thì lão lại càng không làm nổi. Con người mà đau khổ không giảm được nhân cách, đã khóc một cách cay đắng vì trót lừa một con chó thì làm sao rất có thể làm hại ai được ! Nam Cao đã linh hoạt và khéo léo lồng ghép những chi tiết để sau cùng sự lựa chọn duy nhất của lão Hạc là cái chết. Chính vì chi tiết này mà truyện ngắn Lão Hạc đã lên án gay gắt xã hội cũ loạn lạc, mục ruỗng. Nó sẵn sàng xô đẩy ông lão nghèo khổ đó chọn cái chết như là giải pháp duy nhất để lão Hạc thoát khỏi cuộc sống đoạ đày đau khổ mà vẫn không thay đổi được tấm lòng lương thiện của tôi.

Qua truyện ngắn của Nam Cao, chúng ta đã biết thêm được về số phận, cảnh đời của những người nông dân trong xã hội xưa nói chung và lão Hạc nói riêng. Lão Hạc đúng là hiện thân cho một nhân cách cao đẹp trong cái bóng đêm bao trùm lên những người dân vô tội khốn khổ khi xưa.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 8

Văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 là nơi quy tụ của nhiều cây bút văn xuôi xuất sắc. Mỗi người một đề tài, một phong thái sáng tác riêng song đều triệu tập phản ánh tính cách và số phận của nhiều tầng lớp người dân giai đoạn đó. Khi nhân dân ta rơi vào cảnh nước mất, nhà tan, bản thân là kiếp nô lệ thì cuộc sống không thể khác là sự đọa đày và khổ đau. Điều đó đã được thể hiện sâu sắc qua truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao.

Trước hết ông là một người nông dân gặp nhiều nỗi khổ tâm và xấu số, vì nghèo khổ nhưng rất chất phác đôn hậu và giàu lòng yêu thương con. Trong cảnh làng mất nghề, người nghèo khắp nơi thì những người già nghèo như lão Hạc là khổ hơn cả. Lão sức yếu mà không tồn tại người đỡ đần, chăm sóc khi tuổi già. Đau khổ hơn cho lão Hạc là người con trai đi bặt vô âm tín mấy năm liền. Bản thân lão ốm yếu luôn mà không tồn tại tiền chữa bệnh, lão Hạc sống nốt những năm cuối đời trong cảnh cô đơn. Mòn mỏi về chứng bệnh tật và mong chờ đứa con ngày cũng như đêm, đó là nỗi xấu số và khổ tâm rất lớn của lão Hạc. Cô đơn về tinh thần, về vật chất lão Hạc cũng chẳng sung sướng gì. Đói khổ, bàn đầu lão Hạc còn ăn củ khoai, củ sắn, sau thì ăn đồ ăn tự tạo lấy : “hôm thì ăn củ chuối, hôm thì ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, củ khoai hay bữa trai, bữa ốc”. Lão đã quỵ ngã vì bệnh tật, vì nhớ mong khắc khoải. Tuổi lão đã cao, lại thêm sự lo toan cho cuộc sống, thời gian cứ đánh gục dần lão. Chính cái cơ chế thực dân phong kiến ấy đã bần hàn hoá lão, dồn lão đến trước con đường của Binh Tự : con đường vô lương, trộm cắp, đánh bả chó. Mặc dù đã bị dồn đến bức tường sau cùng ấy nhưng lão Hạc vẫn không chịu cúi đầu chui qua cái lỗ nhỏ mà số phận chỉ cho, lão không chịu bán đi hai chữ “lương thiện” mà chấp thuận kết thúc cuộc đời, kết thúc một kiếp người như kiếp chó của tôi. Cái chết của lão Hạc thảm thương quá : Lão “vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc.”. Như vậy đấy, cuộc đời người nông dân trước Cách mạng khổ từ khi sinh ra cho tới tận lúc chết, mà hình ảnh điển hình là lão Hạc đã được đưa vào văn học.

Mặc dù đời sống bị bần hàn hoá đến cùng cực như vậy nhưng lão Hạc vẫn không mất đi những phẩm chất vốn có của người nông dân Việt Nam. Từ lời nói về việc làm, suy nghĩ của lão Hạc đều toát lên vẻ thật thà, chất phác. Lão nói với ông giáo : “Tôi cắn rơm, cắn cỏ lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì cho tôi gửi.”. Nghe lão nói thật hiền từ mà chất phát quá ! Nhỡ sang tên cho ông giáo rồi, ông ta nghèo quá mà bán đì thì sao? Ấy là cái tính của người nông dân “chọn mặt gửi vàng”, tin tưởng vào những người có học. Cao hơn cả chất phác, lão Hạc là người có tấm lòng đôn hậu. Ông lão rất thương con, nhất định không dùng đến tiền bán vườn của con. Yêu con nên thấy con không cưới được vợ, lão Hạc rất đau khổ. Sống cô đơn, nghèo khổ, nhưng ngày cũng như đêm, lão đều nghĩ, đều thương đến con. Vì thương con và bất lực trước cuộc sống, lão mới kết thúc cuộc đời để khỏi xâm phạm đến mảnh vườn của con. Tình yêu con của lão cũng thể hiện ở sự thương yêu, trân trọng kỉ vật của con để lại : một con chó “lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự”.

Những lúc rỗi rãi, lão tắm cho nó, bắt rận cho nó đầy yêu thương. Lão còn cho nó, ăn trong một chiếc bát, lúc nào cũng tâm sự với nó. Khi bán nó, lão không thể nén được dòng nước mắt như cái lần lão tạm biệt con trai. rất có thể hiểu rằng bán coin chó vàng là lão vĩnh viễn không thấy được hình ảnh người con trai.

Qua hình ảnh của lão Hạc, ta rất có thể nhận thấy rằng, dưới cơ chế thực dân phong kiến, thân phận người nông dân tuy đầy đau khổ nhưng tâm hồn họ cực kì chất phác và đôn hậu.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 9

Từ xưa đến nay, nói về Nam Cao là người ta nói ngay đến Lão Hạc. Tác phẩm này được coi là một truyện ngắn xuất sắc trong văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945. Đó !à một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn, xấu số và cái chết đau đớn của một lão nông nghèo khổ. Nhân vật lão Hạc đã khắc vào lòng người đọc một cách sâu đậm về hình ảnh một lão nông đáng kính với phẩm chất của con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương con.

Cuộc đời lão Hạc là một chuỗi những đau khổ, xấu số, một kiếp đời chua chát và đắng cay từ khi sinh ra cho tới khi ra đi về cõi vĩnh hằng. Góa vợ từ khi còn trẻ, một mình lão gà trống nuôi con trong cảnh đói nghèo, lam lũ, những mong con khôn lớn, trưởng thành làm chỗ nương tựa lúc ốm đau, khi tuổi già. Nhưng hạnh phúc nhỏ nhoi ấy đã không đến với lão. Vì không đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên đi làm phu đồn điền cao su thiên nhiên. cảnh chia li của cha con lão Hạc không hẹn ngày sum họp. Lão Hạc đã mất vợ nay lại thêm nỗi mất con.

Cảnh khốn khó về vật chất hoà trong nỗi đau tinh thần thành dòng lệ chảy trong trái tim mong chờ khắc khoải của người cha. Nhưng cuộc đời Hình như vẫn vẫn chưa buông tha lão. xấu số rồi lại xấu số cứ liên tiếp giáng xuống đầu người cha già khốn khổ. Kiệt sức vì lam lũ, lầm than, vì mòn mỏi đợi chờ, lão ốm nặng. Sau trận đó, lão yếu đi nhiều, không thể làm được những việc nặng. Làng mất nghề sợi, đàn bà rỗi rãi nhiều, có việc gì nhẹ họ đều tranh hết. Lão Hạc rơi vào cảnh bần hàn hoá hoàn toàn. Lão sống vật vờ với con ốc, con trai, củ khoai, củ ráy, sung luộc,… Những thứ ấy cũng chẳng dễ gì tìm kiếm được với cùng 1 lão già đã hết sạch sức lực.

Cùng đường sống, lão Hạc tìm tới cái chết, lấy cái chết để tự giải thoát cho mình. Lão đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm “đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, mồm tru tréo, bọt mép sùi ra,… vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết”. Cái chết thật dữ dội ! Số phận một con người, một kiếp sống như lão thật đáng thương.

Với ngòi bút nhân đạo tha thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương nỗi xót đối với những con người đau khổ, bế tắc phải tìm tới cái chết như lão Hạc. Chí Phèo tự tử bằng lưỡi dao, Lang Rận thắt cổ chết, và lão Hạc cũng quyên sinh bằng cái bả chó ! Lão Hạc từng hỏi ông giáo : “Nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ?”. Câu hỏi ấy thể hiện nỗi đau khổ tột độ của một con người.

Lão Hạc sống nghèo khổ về vật chất nhưng rất giàu tình cảm. Tình yêu thương con nồng nàn sâu sắc của lão là mẩu chuyện cảm động về tình cha con. Nhìn con đau khổ vì không tồn tại tiền để cưới vợ, lão Hạc khổ tâm cực kì. Lão thấy mình như có lỗi với con và lão day dứt mãi. Khi con phẫn chí đăng tên đi làm phu đồn điền cao su thiên nhiên, trái tim người cha thực sự tan nát. Nỗi thương nhớ thường trực trong người cha trở thành sự khắc khoải ngóng trông : “Thằng cháu nhà tôi dễ đến hơn một năm nay chẳng có giấy má gì ông giáo ạ”. Ta đọc được trong câu nói ấy cái tình cảm ấm cúng của người cha. Thương nhớ con, lão dồn tình cảm âu yếm vào “cậu Vàng” – kỉ vật của người con để lại. Cái tên cậu Vàng đã chứa đựng toàn bộ tình quý mến và thân thiết đối với cùng 1 con vật – một kỉ vật. Không phải bất kể người nào cũng rất có thể yêu thương con vật như vậy. Vậy lão không đôn hậu, yêu con đó sao ? Những cơn mưa bão liên miên, hoa màu trong vườn đều bị phá sạch, việc làm chẳng còn, nếu cứ tiếp tục như vậy thì sẽ ăn vào số tiền chắt chiu dành dụm cho con. Đặt lên bàn cân mà tính, suất ăn của con chó cũng bằng lão, vậy thì tốn quá. Giữa số tiền dành dụm cho .con và con chó – người bạn tâm tình, lão sẽ chọn ai đây ! Để đi đến quyết định, lão đã phải dằn vặt, đau khổ, lão suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới dũng cảm bán con chó. Cuộc lựa chọn khó khăn, tàn khốc ra mắt trong nước mắt. Nhưng nếu không bán con chó, lão sẽ chết và số tiền dành dụm cho con cũng chẳng còn. Lão bán chó đâu phải để ăn mà để lo cho tương lai của đứa con. Hình ảnh lão Hạc “miệng méo xệch”, “khóc hu hu” khi nghĩ rằng mình đã đánh lừa một con chó là hiện thân của tấm lòng nhân ái cao quý.

Bao nhiêu tình thương yêu con lão dồn cả vào việc quyết giữ bằng được mảnh vườn cho con. Khi đã hết đường sinh nhai, lão Hạc rất có thể bán vườn đi, nhưng lão không làm thế, lão thà chết chứ không chịu bán đi một sào. Thậm chí trước khi chết, lão còn tìm nơi nhờ cậy gửi gắm mảnh vườn ấy… Cuộc đời lão Hạc thật bi thương. Nhưng giữa cuộc đời khốn khó, lão Hạc vẫn ý thức được nhân phẩm của tôi. Lòng tự trọng của một người không được chấp nhận lão nhận sự giúp đỡ của ông giáo mà lão biết cũng chẳng sung sướng hơn gì lão, càng không được chấp nhận lão phiền lụy đến bà con lối xóm. Ý thức được điều đó một cách sâu sắc, lão Hạc đã nhịn ăn để dành tiền làm ma cho mình. Ta nhận thấy ở lão Hạc một triết lí sống cao đẹp biết nhường nào…

Dưới một xã hội đen tối, ngột ngạt, không ít người đã đánh mất nhân phẩm, hoặc tha hoá, biến chất. Ta cũng dễ dàng tìm thấy họ trong một loạt những, sáng tác của Nam Cao. Nhưng khác với họ, dù nghèo đến đâu, lão Hạc vẫn sống trong trắng và lương thiện. Chính nhân vật ông giáo đã nhận được xét về lão: “Binh Tư lại một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa gì lão Hạc chính vì lão lương thiện quá.”. Hết kế sinh nhai lão rất có thể chọn con đường theo Binh Tư, nhưng lão Hạc không làm như thế. Lão thà chết chứ nhất định không bán linh hồn cho quỷ dữ. Một cách sống và xử thế thật đáng trân trọng, thích hợp với đạo lí “thác trong hơn sống đục” của nhân dân ta.

Cuộc đời lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất lực. Sống thì lặng lẽ, nghèo khổ cô đơn ; chết thì quằn quại đau đớn. Tuy thế, lão Hạc lại có phẩm chất đẹp đẽ như hiền lành, chất phác, vị tha, nhân hậu, trong trắng và tự trọng,… Lão Hạc là một điển hình về người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ, được Nam Cao mô tả chân thực với bao nhiêu trân trọng, xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 10

Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Lão không chỉ có đại diện cho số phận cùng cực, xấu số của người nông dân trong xã hội cũ mà lão còn là đại diện cho những phẩm chất cao quý, tiềm tàng trong họ.

Trước hết lão hạc là người có số phận xấu số. Lão góa vợ, sống một mình nuôi con, vì gia cảnh nghèo khó, số tiền thách cưới lại quá cao nên lão không thể lấy vợ cho con, bởi vậy trong lòng lão lúc nào cũng mang tâm trạng dằn vặt, đau đớn. Cũng bởi việc này mà con trai lão bỏ đi đồn điền cao su thiên nhiên, bặt vô âm tín. Về già những tưởng có người chăm sóc thì lão lại phải sống trong cảnh cô đơn. Lão không được sống cuộc đời an nhàn, thảnh thơi, dù già nhưng lão vẫn đi làm thuê, để tích cóp cho con. Nhưng số phận trêu đùa, một trận ốm nặng lấy hết tiền lão đã dành dụm, trận bão cướp hết hoa màu. Càng trớ trêu hơn khi cậu Vàng – kỉ vật con trai lão để lại, lão yêu nó hơn cả bản thân nhưng nay lão lại phải bán nó đi. Lão rơi vào thảm kịch: bán hay không bán cậu Vàng. Nhưng trong thực tiễn khốn khó, dù cực kì đau đớn lão cũng đành phải bán cậu Vàng. Sau khi bán cậu Vàng, lão rơi vào rủi ro khủng hoảng tâm lí trầm trọng: “Lão cố làm ra vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”, “mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”.

Lão ân hận, day dứt khi đã bán cậu Vàng. Lão tự kết tội mình là đã đánh lừa một con chó. Trong cuộc đời đầy những vất vả, đổi trắng thay đen, người ta lừa lọc nhau để sống nhưng lão Hạc lại ăn năn vì đã bán một con chó. Điều này cho thấy sự ngay thẳng và nhân cách cao đẹp trong con người lão Hạc. Dù đã bán cậu Vàng những cuộc sống vẫn lão ngày một nghèo khó, lão vớ được thứ gì ăn thứ đó và sau cùng lão đã tìm tới cái chết như một cách tạ tội với cậu Vàng và giải thoát chính mình. Tuy nhiên, cách giải thoát của lão hết sức bi thảm: tự tử bằng việc ăn bả chó. Việc một con người giàu lòng yêu thương, trung thực phải tìm tới cái chết đau đớn vật vã như vậy tự bản thân nó đã bao hàm ý nghĩa sâu sắc lên án, tố cáo xã hội phi nhân tính.

không chỉ có vậy, lão còn là một người cha hết mực thương con và có trách nhiệm. Khi con bỏ đi đồn điền cao su thiên nhiên, lão luôn cảm thấy đau đớn, xót xa vì đã không làm tròn vai trò của một người cha. Bao nhiêu tình yêu thương con lão dồn hết vào việc chăm sóc cậu vàng: lão âu yếm trò chuyện với nó, cho nó ăn cơm trong bát như nhà giàu,… Lão không ngừng lao động, chắt chiu, tằn tiện để dành dụm cho con. Lão quyết tâm tìm mọi cách để giữ lại mảnh vườn cho con. Những ngày đau ốm, cùng trận bão đã cướp sạch đi tiền của và hoa màu của lão, những ngày sau đó lão sống lay lắt, tằn tiện sau cùng lão quyết định tìm tới cái chết. Trước khi chết lão sang nhà ông giáo gửi gắm lại mảnh vườn, để sau này đứa con trở về vẫn có nơi làm ăn sinh sống. Lão chu toàn trong toàn bộ mọi việc, không chỉ có suy nghĩ trong hiện tại, mà còn bảo vệ tài sản cho con cả ở tương lai. Ông quả là có tình yêu thương con sâu sắc, tha thiết.

Lão Hạc còn là người có lòng tự trọng sâu sắc. Lão luôn sống bằng sức lao động của tôi. Dù ông giáo có thiện ý giúp đỡ nhưng lão vẫn từ chối: “Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão chế tác được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng ăn một vài củ ráy hay bữa ốc”. Nhân cách trong sáng của lão còn thể hiện trong dòng nước mắt, trong lời nói đầy ân hận khi lão đã trót lừa cậu vàng, và lão đã lấy cái chết đau đớn, vật vã như một con chó để tạ lỗi với cậu Vàng. Trước khi chết lão chuẩn bị hết sức chu đáo, lão gửi lại tiền ma chay cho ông giáo để sau này khi chết đi không làm phiền đến hàng xóm. Lão quả thật là một con người có nhân cách cao đẹp đáng trân trọng.

Để mô tả toàn bộ cuộc đời nhân vật, tác giả đã lựa chọn hình thức trần thuật hết sức thích hợp. Lấy người kể chuyện là ông giáo sẽ đem lại nhiều tác dụng: là người gần gũi chứng kiến toàn bộ cảnh đời lão Hạc nên mẩu chuyện được thuật lại tự nhiên, chân thực, khách quan. Việc trần thuật từ ngôi thứ nhất khiến cho mạch kể linh hoạt, phối kết hợp giữa kể, tả và comment. Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc: tính cách, phẩm chất của nhân vật được thể hiện qua ngôn ngữ, hành động và sự đánh giá của những nhân vật khác. Ngôn ngữ nhân vật mang tính cá thể hóa cao độ.

Nhân vật lão Hạc đại diện cho người nông dân Việt Nam mang trong mình những phẩm chất đẹp đẽ: tình yêu thương và lòng tự trọng, nhân cách cao đẹp. Qua nhân vật này tác giả vừa bộc lộ thái độ yêu thương, trân trọng đồng thời thể hiện sự cảm thông sâu sắc cho số phận xấu số của những người nông dân trước cách mạng.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 11

Từ xưa đến nay nói về tình người, ta nói ngay đến “Lão Hạc”. Tác phẩm này được coi là truyện ngắn xuất sắc của văn học hiện thực phê phán thời kỳ 1930 – 1945. Đó là một truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn, xấu số và cái chết đau đớn của một lão nông dân nghèo khổ. Nhân vật Lão Hạc đã khắc họa vào lòng người đọc một cách sâu đậm về hình ảnh một lão nông dân đáng kính với phẩm chất của con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực thương con.

Cuộc đời Lão Hạc là một chuỗi những đau khổ xấu số, một kiếp người chua chát và cay đắng từ khi sinh ra cho tới khi ra đi về cõi vĩnh hằng. Góa vợ từ khi còn trẻ, một mình lão gà trống nuôi con trong cảnh đói nghèo, lam lũ những mong con khôn lớn, trưởng thành làm chỗ nương tựa lúc ốm đau, khi tuổi già. Nhưng niềm hạnh phúc ấy đã không đến với lão. Vì không đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên đi phu làm đồn điền cao su thiên nhiên. Cảnh chia lìa của cha con Lão Hạc không hẹn ngày sum họp. Lão Hạc mất vợ nay lại thêm nỗi đau mất con

Cảnh khốn khó về vật chất hòa trong nỗi đau về tinh thần thành dòng lệ chảy trong trái tim mong chờ khắc khoải của người cha. Nhưng cuộc đời Hình như vẫn vẫn chưa buông tha lão. xấu số rồi xấu số cứ liên tiếp giáng xuống đầu người cha khốn khổ ấy. Kiệt sức vì lam lũ lầm than, vì mòn mỏi mong chờ. Lão ốm nặng. Sau trận ốm đó lão ốm đi rất nhiều, không thể làm được những việc nặng. Làng mất nghề sợi, đàn bà rỗi rãi nhiều, có việc gì nhẹ họ đều tranh hết. Lão Hạc rơi vào cảnh bần hàn hóa hoàn toàn. Lão sống vật vờ với con ốc, con trai, củ khoai, củ ráy, sung luộc …. Những thứ cũng chẳng dễ gì tìm kiếm được với cùng 1 lão già đã hết sạch sức lực.

Cùng đường sống, Lão Hạc tìm đường đến cái chết, lấy cái chết để tự giải thoát cho mình. Lão đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm “đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, mồm tru tréo bọt mép sùi ra. Vật vã đến 2 giờ đồng hồ rồi mới chết”. Cái chết thật dữ dội! Số phận một con người, một kiếp người như Lão Hạc thật đau thương.

Với ngòi bút nhân đạo tha thiết, Nam Cao đã nói lên bao tình thương nỗi xót xa con người đau khổ, bế tắc phải tìm tới cái chết như lão. Chí Phèo tự tử bằng lưỡi dao, Lang Rận thắt cổ chết và Lão Hạc cũng quyên sinh bằng bả chó! Lão Hạc từng hỏi ông giáo: “nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho sướng?”. Câu hỏi ấy thể hiện nỗi đau khổ tột độ của một con người sống nghèo khổ về vật chất nhưng rất giàu tình cảm. Tình yêu thương con nồng nàn sâu sắc của lão là mẩu chuyện cảm động về tình cha con. Nhìn con đau khổ vì không tồn tại tiền cưới vợ, Lão Hạc khổ tâm cực kì. Lão thấy mình như có lỗi với con và day dứt mãi. Khi con phẫn chí đành trốn đi làm đồn điền cao su thiên nhiên; trái tim người cha thật sự tan nát. Nỗi thương nhớ con thường trực trong người cha trở thành sự khắc khoải ngóng trông: “Thằng cháu nhà tôi dễ đến hơn một năm nay chẳng có giấy má gì ông giáo ạ”. Ta đọc được trong câu nói tình cảm ấm cúng của người cha.

Thương nhớ con lão dồn tình cảm âu yếm cậu vàng – kỷ vật của người con để lại. Cái tên cậu vàng đã chứa đựng toàn bộ tình cảm quý mến và thân thiết đối với cùng 1 con vật – một kỉ vật. Không phải bất kể người nào cũng rất có thể yêu thương con vật như vậy. Những cơn mưa bão liên miên, hoa màu trong vườn đều bị phá sạch, việc làm chẳng còn, nếu cứ tiếp tục như vậy thì sẽ ăn vào số tiền chắt chiu dành dụm cho con. Đặt lên bàn cân mà tính, suất ăn của con chó cũng bằng lão, vậy thì tốn quá. Giữa số tiền dành dụm cho con và con chó – người bạn tâm tình, lão sẽ chọn ai đây? Để đi đến quyết định, lão đã phải dằn vặt đau khổ, lão suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới dũng cảm bán con chó. Cuộc lựa chọn khó khăn tàn khốc ra mắt trong nước mắt. Nhưng nếu không bán con chó, lão sẽ chết và số tiền dành dụm cho con cũng chẳng còn. Lão bán chó đâu phải để ăn mà để lo tương lai cho đứa con. Hình ảnh Lão Hạc “miệng méo xệch, khóc hu hu” khi nghĩ rằng mình đã lừa một con chó là hiện thân của tấm lòng cao quý”.

Bao nhiêu tình yêu thương con lão dồn cả vào việc quyết giữ bằng được mảnh vườn cho con. Khi đã hết đường sinh nhai, lão rất có thể bán vườn đi, nhưng lão không làm thế, lão thà chết chứ nhất định không chịu bán đi một sào. Thậm chí trước lúc chết lão còn tìm nơi nhờ cậy gửi gắm mảnh vườn ấy … Cuộc đời Lão Hạc thật bi thương. Nhưng giữa cuộc đời khốn khó, Lão Hạc vẫn ý thức được nhân phẩm của tôi. Lòng tự trọng của một người không được chấp nhận lão nhận sự giúp đỡ của ông giáo mà lão biết chẳng sung sướng gì hơn lão, càng không được chấp nhận lão phiền lụy đến bà con lối xóm. Ý thức được điều đó một cách sâu sắc, Lão Hạc đã nhịn ăn để dành tiền làm ma chay cho mình. Ta nhận thấy ở lão một triết lí sống cao đẹp biết dường nào.

Dưới một xã hội đen tối ngột ngạt, không ít người đã đánh mất nhân phẩm, hoặc tha hóa biến chất. Ta cũng dễ dàng tìm thấy họ qua một loạt sáng tác của Nam Cao. Nhưng khác với họ, dù nghèo đến đâu, Lão Hạc vẫn sống trong trắng và lương thiện. Chính nhân vật ông giáo đã nhận được xét về lão: “Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn là nghề ăn trộm nên vốn không ưa gì Lão Hạc chính vì lão lương thiện quá”. Hết kế sinh nhai lão rất có thể chọn con đường theo Binh Tư nhưng lão không làm như thế. Lão thà chết chứ nhất định không bán linh hồn cho quỷ sứ. Một cách sống và xử thế thật đáng trân trọng, thích hợp với đạo lý “thác trong hơn sống đục” của nhân dân ta.

Cuộc đời của Lão Hạc đầy nước mắt, nhiều đau khổ và bất lực; sống thì lặng lẽ nghèo khổ cô đơn; chết thì quằn quại đau đớn. Tuy thế, Lão Hạc lại có phẩm chất đẹp đẽ như hiền lành chất phác, vị tha, nhân hậu, trong trắng và tự trọng …. Lão Hạc là một điển hình và người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ, được Nam Cao mô tả chân thực với biết bao trân trọng, xót thương, thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết.

Bài viết số 7 đề 2 – Mẫu 12

Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930 – 1945. Qua nhiều tác phẩm, tác giả đã vẽ nên khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Sự đói khổ ám ảnh nhà văn chính vì nó tác động không ít tới nhân cách, nhưng trong cảnh nghèo khổ thê thảm, phẩm chất đẹp đẽ của người nông dân vẫn tồn tại và lặng lẽ tỏa sáng. Truyện ngắn Lão Hạc thể hiện cái nhìn nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Trong số đó, nhân vật đúng là một nông dân gặp nhiều nỗi xấu số vì nghèo khổ nhưng chất phác, đôn hậu, thương con và có lòng tự trọng.

Vợ mất sớm, Lão Hạc dồn toàn bộ tình yêu thương cho đứa con trai duy nhất. Lão sẽ sung sướng biết dường nào nếu con trai lão được hạnh phúc, nhưng con trai lão đã bị phụ tình chỉ vì quá nghèo, không đủ tiền cưới vợ.

Thương con, lão thấu hiểu nỗi đau của con khi anh nghe lời cha, không bán mảnh vườn để lấy tiền cưới vợ mà chấp thuận sự tan vỡ của tình yêu. Càng thương con, lão càng xót xa đau đớn vì không giúp được con thỏa nguyện, đến nỗi phẫn chí bỏ nhà đi phu đồn điền đất đỏ mãi tận Nam Kì. Mỗi khi nhắc đến con, Lão Hạc lại rơi nước mắt.

Lão Hạc rất quý con chó vì nó là kỉ vật duy nhất của đứa con trai. Lão trìu mến gọi là cậu Vàng và cho nó ăn cơm bằng chiếc bát lành lặn. Suốt ngày, lão thầm thì to nhỏ với con Vàng. Với lão, con Vàng là hình bóng của đứa con trai yêu quý, là người bạn san sẻ cô đơn với lão. Vì vậy cho nên bao lần định bán con Vàng mà lão vẫn không bán nổi.

Nhưng nếu vì nhớ con mà Lão Hạc không muốn bán cậu Vàng thì cũng chính vì thương con mà lão phải dứt khoát chia tay với nó. Lão nghèo túng quá! Lão đã tính chi li mỗi ngày cậu ấy ăn thế bỏ rẻ cũng mất hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được… Thôi bán phắt đi, đỡ đồng nào hay đồng ấy. hiện nay, tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của con. Tiêu lắm chỉ chết nó!

Thế là vì lo tích cóp, giữ gìn cho con trai chút vốn mà Lão Hạc đành chia tay với con chó yêu quý. Đã quyết như thế nhưng lão vẫn đau đớn, xót xa. Lão kể cho ông giáo nghe cảnh bán cậu Vàng với nỗi xúc động cực độ. Lão đau khổ dằn vặt vì cảm thấy mình đã đánh lừa một con chó. Nỗi khổ tâm của lão cứ ông xã chất mãi lên. Trước đây, lão dằn vặt mãi về chuyện vì nghèo mà không cưới được vợ cho con, thì hiện nay cũng chỉ vì nghèo mà lão thêm day dứt là đã cư xử không đàng hoàng với cùng 1 con chó. Lão cố chịu đựng những nỗi đau đớn ấy cũng chỉ nhằm một mục đích là giữ gìn chút vốn cho con.

thể hiện cao nhất của tình yêu thương con đúng là cái chết của lão. Ông lão nông dân nghèo khổ ấy đã tính toán mọi đường: hiện nay lão chẳng làm gì được nữa… Cái vườn này là của mẹ nó chắt chiu dành dụm cho nó, ta không được ăn vào của nó… Ta không thể bán vườn để ăn… Chính vì thương con, muốn giữ cho con chút vốn giúp nó thoát khỏi cảnh nghèo mà Lão Hạc đã chọn cho mình cái chết. Đó là một sự chọn lựa tự nguyện và dữ dội. Nghe những lời tâm sự của Lão Hạc với ông giáo, không ai rất có thể kìm nổi lòng xót thương, thông cảm và khâm phục. Một con người vì nghèo khổ mà xấu số đến thế là cùng! Một người cha thương con đến thế là cùng!

không chỉ có có vậy, qua từng trang truyện, chúng ta còn thấy Lão Hạc là người đôn hậu, chất phác. Suốt đời, lão sống quanh quẩn trong lũy tre làng. Trong làng chỉ có ông giáo là người có học nên lão tìm tới ông giáo để san sẻ tâm sự. Lời lẽ của Lão Hạc đối với ông giáo lúc nào cũng lễ phép và cung kính. Đó là cách bày tỏ thái độ kính trọng người hiểu biết, nhiều chữ của một lão nông. Cảnh ngộ Lão Hạc đã đi vào lúc túng quẫn nhưng lão tự lo liệu, xoay xở, cố giữ nếp sống trong trắng, tránh xa lối đói ăn vụng túng làm càn. Thậm chí, lão kiên quyết từ chối sự giúp đỡ chỉ vì lòng thương hại.

Lão đã chuẩn bị kĩ lưỡng mọi việc. Trước khi chết, lão nhờ ông giáo viết văn tự để giữ hộ con trai mình mảnh vườn và gửi ông giáo 30 đồng để lo chôn cất. Lão không muốn mọi người phải tiêu tốn vì lão. Rất rất có thể vì tiêu tốn mà người ta lại chẳng oán trách lão sao? Không phiền lụy đến mọi người, đó cũng là cách để giữ gìn phẩm giá. Thì ra ông lão có vẻ ngoài gàn dở ấy lại có phẩm chất đáng quý biết nhường nào!

Nhà văn Nam Cao đã giúp chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm, xấu số vì nghèo khổ cùng những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Từ những trang sách của Nam Cao, hình ảnh Lão Hạc luôn nhắc chúng ta nhớ đến những con người nghèo khó mà trong trắng với cùng 1 tình cảm trân trọng và yêu quý.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *